Khách mời, chuyên gia tham dự hội thảo:
- Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tri Thức - Thứ trưởng Bộ Y tế.
- Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Anh Tú - Phó Giám đốc Bệnh viện K, Chánh Văn phòng Hội Ung thư Việt Nam.
- Bác sĩ CKII Nguyễn Đình Văn - Trưởng khoa Ung bướu - Huyết học, Bệnh viện Nhi đồng 2.
- Tiến sĩ, Bác sĩ Lưu Ngân Tâm - Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy.
- Ngoài ra còn có đại diện sở y tế các tỉnh, thành phía Nam, cùng các bệnh viện, hiệp hội chuyên ngành và doanh nghiệp y tế.
Khép lại phần tọa đàm, Nhà báo Lý Thành Tâm mời nam sinh Lý Đại Phước - nhân vật đã mở đầu chương trình bằng tiết mục piano, chia sẻ về hành trình chiến đấu với căn bệnh ung thư.
Nam sinh Lý Đại Phước:
Em phát hiện mắc ung thư vào đầu năm 2026, sau khi nhận thấy phần đùi phải to bất thường. Trước đó, từ cuối năm 2025, em thấy một khối cơ ở đùi phải lớn hơn bình thường, khiến hai chân mất cân đối. Vì thường xuyên chơi thể thao và chân phải là chân thuận nên em chỉ nghĩ đó là khối cơ phát triển hơn, hoàn toàn không nghi ngờ mình mắc bệnh.
Đến khi được gia đình, bạn bè động viên đi khám tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM vào tháng 1/2026, kết quả xét nghiệm và sinh thiết xác định em mắc u mô mềm ác tính ở vùng cơ đùi phải. Sau ca sinh thiết, em chuyển đến Bệnh viện Ung bướu TPHCM để bắt đầu quá trình hóa trị.
Những ngày đầu biết mình mắc ung thư là khoảng thời gian rất khó khăn. Em còn quá trẻ, còn nhiều ước mơ và dự định nên không thể tin căn bệnh này lại đến với mình sớm như vậy. Có lúc em suy sụp và gần như mất hết tinh thần.
May mắn là em luôn nhận được sự động viên của gia đình, bạn bè và những người đã đồng hành cùng mình. Chính sự yêu thương ấy giúp em lấy lại niềm tin, tiếp tục đồng hành với các bác sĩ để điều trị bệnh.
Đến nay, em đã trải qua gần nửa năm điều trị với tám đợt hóa trị và sắp bước vào đợt hóa trị thứ chín. Những lần hóa trị khiến sức khỏe và tinh thần của em có lúc suy giảm, nhưng âm nhạc đã trở thành nguồn động viên đặc biệt.
Âm nhạc giúp em sống chậm hơn, biết trân trọng cuộc sống hơn. Em gửi gắm những tâm tư, cảm xúc của mình vào từng nốt nhạc, nhờ đó cảm thấy nhẹ lòng, có thêm động lực để tiếp tục chiến đấu với bệnh tật và tin tưởng vào một ngày sẽ vượt qua căn bệnh này.
Nhà báo Phùng Công Sưởng - Tổng biên tập Báo Tiền Phong - phát biểu bế mạc:
Hội thảo Phòng chống ung thư: Cần bước đột phá toàn diện có sức lan tỏa mạnh khi chương trình được livestream trực tiếp trên các nền tảng của Báo Tiền Phong với hàng chục nghìn lượt xem, cho thấy sự quan tâm của rất đông người dân về căn bệnh nan y này. Các tham luận và ý kiến trao đổi tại hội thảo đã phác họa tương đối toàn diện thực trạng ung thư tại Việt Nam.
Đó không chỉ là số ca mắc mới và tử vong còn ở mức cao, mà còn là tình trạng phát hiện bệnh muộn, chênh lệch trong khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, áp lực tại các bệnh viện tuyến cuối và gánh nặng chi phí đối với người bệnh.
Thực trạng điều trị ung thư trẻ em cũng cho thấy nhiều khoảng trống cần sớm được khắc phục, từ chẩn đoán, hệ thống ghi nhận ung thư nhi, nguồn nhân lực chuyên sâu đến việc theo dõi người bệnh lâu dài. Mỗi trường hợp phát hiện muộn không chỉ làm giảm cơ hội điều trị mà còn gây ra những tổn thất lớn về sức khỏe, tinh thần và kinh tế.
Qua các ý kiến tại hội thảo, có thể thấy phòng, chống ung thư cần chuyển mạnh từ tập trung chữa bệnh sang chủ động dự phòng, tầm soát và phát hiện sớm. Người dân cần được cung cấp kiến thức để nhận diện yếu tố nguy cơ, thay đổi lối sống, dinh dưỡng và đi khám kịp thời.
Khả năng tiếp cận thuốc mới, thuốc điều trị đích, liệu pháp miễn dịch và các kỹ thuật hiện đại cũng là vấn đề được đặc biệt quan tâm. Thành tựu y học chỉ thực sự có ý nghĩa khi người bệnh có cơ hội tiếp cận. Vì vậy, chính sách bảo hiểm y tế cần tiếp tục được hoàn thiện, từng bước mở rộng phạm vi chi trả trên cơ sở bảo đảm hiệu quả điều trị và sự bền vững của quỹ. Mục tiêu chung là không để người bệnh bị gián đoạn điều trị hoặc bị bỏ lại phía sau vì khó khăn tài chính.
Hội thảo cũng khẳng định điều trị ung thư phải được tiếp cận theo hướng toàn diện, đa chuyên khoa. Dinh dưỡng lâm sàng cần được đánh giá và can thiệp sớm trong quá trình điều trị. Công tác đào tạo nhân lực phải theo kịp sự thay đổi của mô hình bệnh tật cũng như những tiến bộ về y học chính xác, công nghệ gene, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn.
Việt Nam cần một chiến lược quốc gia về phòng, chống ung thư với mục tiêu, lộ trình và nguồn lực cụ thể, kết nối đồng bộ các trụ cột từ dự phòng, phát hiện sớm, điều trị đến chăm sóc giảm nhẹ, đào tạo nhân lực và bảo đảm tài chính cho người bệnh.
Câu chuyện của em Lý Đại Phước hôm nay nhắc chúng ta rằng phía sau mỗi con số là một con người, một gia đình và một hành trình chiến đấu. Vì vậy, mọi chính sách và giải pháp cuối cùng phải lấy cơ hội sống, chất lượng sống của người bệnh làm thước đo.
Báo Tiền Phong cam kết tiếp tục đồng hành cùng ngành y tế, các chuyên gia và cộng đồng trong việc truyền tải kiến thức khoa học, phản ánh những điểm nghẽn và thúc đẩy các giải pháp thiết thực trong phòng, chống ung thư.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Chiến lược ung thư quốc gia trong giai đoạn tới cần ưu tiên những trụ cột nào: dự phòng, tầm soát, phát hiện sớm, điều trị, chăm sóc giảm nhẹ hay nghiên cứu khoa học?
BS CKII Nguyễn Đình Văn - Trưởng Khoa Ung bướu - Huyết học, Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM:
Với ung thư nhi, điều quan trọng nhất là tăng cường truyền thông. Mặc dù ung thư nhi chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số ca ung thư, nếu truyền thông đúng cách sẽ mang lại hiệu quả lớn.
Các dấu hiệu của bệnh ung thư ở trẻ em cần được báo chí và các cơ quan truyền thông phổ biến rộng rãi đến phụ huynh. Cha mẹ là những người đầu tiên có thể nhận ra những biểu hiện bất thường của con mình. Công tác đào tạo cũng rất quan trọng.
Các trường y cần chú trọng đào tạo để bác sĩ đa khoa và bác sĩ nhi nhận biết sớm các dấu hiệu của ung thư nhi. Khác với ung thư ở người lớn, ung thư trẻ em thường không được phát hiện thông qua các chương trình tầm soát.
Hiện nay có một số chương trình tầm soát ung thư nhi đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa mang lại lợi ích rõ rệt so với việc phát hiện bệnh thông qua nhận thức của gia đình và năng lực nhận diện của bác sĩ. Do đó, nâng cao nhận thức của phụ huynh và tăng cường đào tạo cho đội ngũ bác sĩ chính là yếu tố giúp phát hiện bệnh sớm hơn, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị.
Thầy thuốc Nhân dân, TS.BSCKII Phạm Xuân Dũng - Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư TPHCM:
Ung thư là bệnh rất phức tạp, có thể xảy ra ở hầu hết cơ quan trong cơ thể. Bộ Y tế đang xây dựng Chương trình hành động phòng, chống ung thư giai đoạn 2026-2035, đây là một cột mốc rất quan trọng để chuẩn hóa công tác phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị.
Trong chẩn đoán, hiện có rất nhiều kỹ thuật mới, nhưng điều quan trọng là phải lựa chọn đúng xét nghiệm cho từng người bệnh, từng giai đoạn bệnh, tránh lạm dụng và phải đánh giá đúng giá trị của từng kỹ thuật.
Điều trị ung thư cần được thực hiện theo mô hình đa chuyên khoa (MDT). Nhiều nghiên cứu cho thấy MDT giúp cải thiện thời gian sống còn của người bệnh.
Bên cạnh đó, các hướng dẫn chuyên môn cần được chuẩn hóa và áp dụng thống nhất trong thực hành lâm sàng. Chăm sóc giảm nhẹ không phải chỉ dành cho người bệnh giai đoạn cuối mà phải bắt đầu ngay từ khi bệnh nhân được chẩn đoán ung thư. Người bệnh và gia đình cần được hỗ trợ về tâm lý, xã hội ngay từ đầu để giảm cú sốc và đồng hành tốt hơn trong quá trình điều trị.
Tôi cũng đề xuất cần xây dựng hệ thống ghi nhận tử suất do ung thư. Không chỉ thống kê số ca mắc mới, chúng ta phải biết tỷ lệ tử vong giảm hay tăng sau khi đầu tư nguồn lực để đánh giá hiệu quả chính sách.
Về điều trị, cần có chính sách bảo đảm nguồn thuốc ổn định, bởi điều trị ung thư đòi hỏi đúng phác đồ, đúng thời gian. Đồng thời, cần có cơ chế để khu vực tư nhân tham gia đầu tư trang thiết bị hiện đại, góp phần giảm gánh nặng cho hệ thống y tế. Về tài chính, không thể chỉ trông chờ vào bảo hiểm y tế.
Cần huy động đồng thời bốn nguồn lực gồm bảo hiểm y tế, bảo hiểm tư nhân, các quỹ hỗ trợ người bệnh và nguồn lực xã hội hóa để tăng cơ hội tiếp cận điều trị cho bệnh nhân ung thư.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Bài toán nhân lực trong lĩnh vực dinh dưỡng lâm sàng, đặc biệt đối với điều trị ung thư, cần được giải quyết như thế nào?
TS.BS Lưu Ngân Tâm - Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy:
Những năm gần đây, các trường y dược bắt đầu mở chương trình đào tạo chuyên khoa dinh dưỡng, tuy nhiên vẫn còn thiếu đào tạo bác sĩ nội trú dinh dưỡng, đặc biệt tại khu vực phía Nam.
Yếu tố quan trọng nhất là phải nâng cao năng lực thực hành cho người học, xây dựng khung năng lực rõ ràng và đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu.
Bên cạnh đó, cần tăng tính liên thông giữa các chuyên khoa và đưa dinh dưỡng vào chương trình đào tạo bác sĩ từ bậc đại học đến sau đại học. Dinh dưỡng điều trị cần được nhìn nhận là một phần không thể tách rời của điều trị bệnh, thay vì chỉ là hoạt động hỗ trợ như trước đây.
Tiến sĩ, bác sĩ Trần Thị Lan - Trưởng Bộ môn Dinh dưỡng, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng:
Công tác phòng, chống ung thư không chỉ bắt đầu khi người bệnh được chẩn đoán mà phải được triển khai từ dự phòng, trong đó dinh dưỡng giữ vai trò rất quan trọng.
Tại Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, chúng tôi đưa các học phần về dinh dưỡng vào chương trình đào tạo của hầu hết các ngành thuộc khối khoa học sức khỏe như y khoa, y học cổ truyền, răng hàm mặt, điều dưỡng, dược và phục hồi chức năng.
Nội dung về dinh dưỡng lâm sàng và chế độ ăn bệnh viện đều được lồng ghép nhằm giúp sinh viên hiểu rằng dinh dưỡng không chỉ hỗ trợ mà còn là một phần của điều trị. Bên cạnh đó, nhà trường đào tạo ngành Cử nhân Dinh dưỡng với chương trình bao gồm dinh dưỡng lâm sàng, dinh dưỡng cộng đồng, tư vấn dinh dưỡng và an toàn thực phẩm.
Đây đều là những lĩnh vực có vai trò quan trọng trong phòng ngừa các bệnh không lây nhiễm, trong đó có ung thư. Chúng tôi mong muốn tăng cường hợp tác với các chuyên gia và cơ sở y tế để tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần phát triển nguồn nhân lực dinh dưỡng phục vụ công tác chăm sóc và điều trị người bệnh một cách toàn diện.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Để phát triển mạng lưới điều trị ung thư, yếu tố quyết định là nhân lực. Theo bà, hệ thống hiện đang thiếu hụt nhiều nhất ở nhóm nào và chương trình đào tạo cần thay đổi ra sao để đáp ứng mô hình điều trị hiện nay?
PGS.TS.DS Nguyễn Thị Thu Thủy - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng:
Hệ thống điều trị ung thư không chỉ thiếu bác sĩ ung bướu, đặc biệt là ung bướu nhi, mà còn thiếu nguồn nhân lực đa chuyên khoa trong toàn bộ hành trình điều trị.
Những nhóm còn thiếu gồm chuyên gia sinh học phân tử, di truyền, bác sĩ xạ trị và các kỹ thuật điều trị công nghệ cao, điều dưỡng ung bướu, dược sĩ lâm sàng, chuyên gia dinh dưỡng, tâm lý, công tác xã hội và chăm sóc giảm nhẹ. Đầu tư công nghệ phải đi đôi với đầu tư nhân lực, nếu không sẽ khó phát huy hiệu quả điều trị.
Về đào tạo, cần chuyển từ đào tạo theo thời gian sang đào tạo dựa trên năng lực, tăng cường đào tạo liên chuyên khoa để các nhóm nhân viên y tế phối hợp hiệu quả, đồng thời phát triển mô hình viện - trường nhằm tăng thời gian thực hành và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Người bệnh ung thư thường phải sử dụng thuốc trong thời gian dài, đồng thời đối mặt với nguy cơ gián đoạn điều trị. Long Châu có thể đưa ra giải pháp hoặc cam kết cụ thể nào để hỗ trợ người bệnh tiếp cận thuốc an toàn, đúng chỉ định và duy trì điều trị liên tục?
Dược sĩ Châu Thanh Tú:
Với nhiều bệnh nhân ung thư, hành trình điều trị không chỉ cần những phương pháp điều trị tiên tiến mà còn đòi hỏi sự kiên trì. Bên cạnh việc nỗ lực đưa các thuốc phát minh và thuốc thế hệ mới đến gần hơn với người bệnh, chúng tôi mong muốn góp phần san sẻ những áp lực trong quá trình điều trị để người bệnh và gia đình có thêm sự an tâm, vững tin hơn.
Hành trình bắt đầu từ việc nâng cao nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về bệnh lý, các yếu tố nguy cơ cũng như phương pháp điều trị. Thông qua chương trình giáo dục sức khỏe, truyền thông kiến thức y khoa và hoạt động tư vấn phối hợp cùng các chuyên gia, hội chuyên ngành, cơ sở y tế và đối tác dược phẩm, Long Châu mong muốn giúp người dân tiếp cận những thông tin chính xác, nhận biết sớm các dấu hiệu bất thường và chủ động hơn trong việc chăm sóc sức khỏe của bản thân và gia đình.
Tiếp theo là hoạt động nhận diện, sàng lọc và tầm soát các yếu tố nguy cơ, qua đó hỗ trợ người dân phát hiện sớm hơn những vấn đề sức khỏe và tạo điều kiện để người bệnh được thăm khám, chẩn đoán cũng như tiếp cận phương pháp điều trị phù hợp một cách kịp thời. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các bệnh lý nghiêm trọng, trong đó có ung thư, bởi việc phát hiện và can thiệp sớm có thể góp phần cải thiện hiệu quả điều trị và tiên lượng của người bệnh.
Trong quá trình điều trị, chúng tôi đồng hành cùng người bệnh thông qua đội ngũ y tế được đào tạo chuyên môn cao, giúp người bệnh hiểu rõ hơn về cách sử dụng thuốc, các lưu ý trong quá trình điều trị và tầm quan trọng của việc tuân thủ phác đồ do bác sĩ chỉ định. Người bệnh có thể sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hạn chế sai sót không mong muốn và duy trì quá trình điều trị hiệu quả.
Long Châu phối hợp với các hãng dược phẩm, đối tác phân phối, cơ sở y tế, hội chuyên ngành và các bên liên quan để triển khai chương trình hỗ trợ tiếp cận thuốc, hỗ trợ chi phí và chăm sóc người bệnh một cách thiết thực hơn.
Long Châu là một trong những chuỗi nhà thuốc tiên phong triển khai chương trình đồng hành cùng bệnh nhân ung thư, hỗ trợ mua thuốc điều trị theo hình thức trả góp qua thẻ tín dụng với lãi suất 0%. Chương trình áp dụng cho các đơn thuốc từ 1 triệu đồng, với thời hạn trả góp từ 3 đến 36 tháng. Chúng tôi kỳ vọng đây là giải pháp thiết thực, giúp người bệnh chủ động trong việc tiếp cận và duy trì điều trị, hạn chế những gián đoạn không mong muốn.
Chúng tôi còn tích cực khởi xướng và đồng hành cùng nhiều chương trình vì cộng đồng dành cho bệnh nhân ung thư, đặc biệt là những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn và các bệnh nhi ung thư.
Chúng tôi chung tay Quỹ Ngày mai tươi sáng của Bộ Y tế trong các hoạt động hỗ trợ bệnh nhân ung thư, đồng thời khởi xướng dự án "Long Châu sẻ chia - Đồng hành cùng chiến binh nhí" hỗ trợ chi phí điều trị hơn 1 tỷ đồng cho các bệnh nhi ung thư và tim bẩm sinh, mang đến sự động viên, sẻ chia và tiếp thêm động lực cho các bệnh nhi cùng gia đình trong hành trình điều trị.
Thời gian tới, Long Châu tiếp tục duy trì và mở rộng chương trình "Long Châu sẻ chia", tiếp nối hành trình sẻ chia và trách nhiệm với cộng đồng. Thông qua hoạt động này, mục tiêu của chúng tôi không chỉ là đưa thuốc đến tay người bệnh, mà còn là đồng hành cùng họ từ giai đoạn hiểu đúng về bệnh, nhận diện nguy cơ, phát hiện sớm, tiếp cận điều trị cho đến suốt quá trình sử dụng thuốc và chăm sóc sức khỏe lâu dài.
Đồng thời Long Châu mong muốn lan tỏa tinh thần nhân ái, kết nối các nguồn lực xã hội để cùng chung tay chăm lo cho người bệnh, góp phần giúp họ vững tin hơn trên hành trình điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đó cũng là cam kết nhất quán của Long Châu trong hành trình phụng sự cộng đồng, hưởng ứng tinh thần Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 282/NQ-CP của Chính phủ về đột phá trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Chúng tôi mong muốn không chỉ góp phần chăm sóc sức khỏe người dân mà còn lan tỏa tinh thần nhân ái và sẻ chia, góp phần nâng cao chất lượng sống, hướng tới một Việt Nam khỏe mạnh hơn, nơi mọi người đều có cơ hội tiếp cận các giải pháp y tế hiện đại, an toàn và kịp thời.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Với mạng lưới tiếp xúc trực tiếp với người dân, Long Châu nhìn nhận vai trò của dược sĩ cộng đồng như thế nào trong việc nâng cao nhận thức, nhận diện dấu hiệu nguy cơ, khuyến nghị người dân đi khám và hỗ trợ bệnh nhân tuân thủ điều trị?
Dược sĩ Châu Thanh Tú - Dược sĩ trưởng Hội đồng chuyên môn dược, Hệ thống chuỗi Nhà thuốc và Tiêm chủng Long Châu:
Đối với bệnh ung thư, thời gian và cơ hội tiếp cận đúng phương pháp điều trị có ý nghĩa rất lớn đối với sức khỏe của người bệnh và thuốc nhất là các thuốc điều trị thế hệ mới đóng góp một phần khá quan trọng trong việc tiết kiệm chi phí và thời gian điều trị. Với vai trò là hệ thống bán lẻ dược phẩm, Long Châu đã và đang nỗ lực rút ngắn thời gian đưa các thuốc phát minh và thuốc điều trị ung thư thế hệ mới đến gần hơn với người bệnh Việt Nam.
Từ năm 2022, chúng tôi đã xác định tiếp cận phát triển các thuốc mới và thuốc hiếm là một trong những định hướng chiến lược, Long Châu đã và đang chủ động hợp tác với các hãng dược phẩm hàng đầu thế giới để góp phần đưa các giải pháp điều trị tiên tiến về Việt Nam, đồng thời bảo đảm nguồn cung thuốc ổn định, liên tục, đáp ứng kịp thời nhu cầu điều trị của người bệnh. Qua đó Long Châu hiện thực hóa cam kết gần dân, sát dân, chung tay Vì một Việt Nam khỏe mạnh.
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng để người bệnh thực sự tiếp cận được những tiến bộ của y học thì chỉ có thuốc thôi là chưa đủ. Điều quan trọng là phải cùng nhau xây dựng một hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe toàn diện, trong đó đội ngũ dược sĩ và nhân viên y tế Long Châu đóng vai trò cầu nối, giúp người bệnh được tư vấn đúng, sử dụng thuốc an toàn và đồng hành xuyên suốt quá trình điều trị.
Vì vậy, Long Châu không ngừng đầu tư nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ thông qua các chương trình đào tạo, cập nhật kiến thức cùng các chuyên gia, bệnh viện và đối tác dược phẩm trong và ngoài nước, đặc biệt ở các lĩnh vực điều trị chuyên sâu như ung thư, bệnh hiếm và bệnh mạn tính.
Bên cạnh đó, lợi thế về mạng lưới rộng khắp: hơn 2.678 nhà thuốc, 230 trung tâm tiêm chủng cùng đội ngũ trên 22.000 dược sĩ và nhân viên y tế trên toàn quốc giúp Long Châu có khả năng nhanh chóng mở rộng độ phủ và gia tăng mức độ sẵn có của thuốc tại nhiều địa phương.
Điều này, chúng tôi cho rằng rất quan trọng trong chuỗi cung ứng thuốc trong điều trị. Qua đó, người bệnh, dù sinh sống tại các đô thị lớn hay ở những khu vực xa trung tâm, đều có thêm cơ hội tiếp cận thuốc điều trị kịp thời, thuận tiện hơn, giảm bớt thời gian chờ đợi trong quá trình điều trị và được tư vấn sử dụng thuốc đúng cách.
Đối với các thuốc điều trị chuyên sâu, đặc biệt là thuốc ung thư và các thuốc có yêu cầu nghiêm ngặt về điều kiện bảo quản, chất lượng thuốc luôn là yếu tố được Long Châu đặt lên hàng đầu. Với hệ thống kho vận, kho lạnh và các điều kiện bảo quản thuốc được đầu tư đồng bộ, kiểm soát chặt chẽ theo yêu cầu của từng sản phẩm từ kho đến nhà thuốc.
Điều này góp phần bảo đảm thuốc được duy trì trong điều kiện phù hợp xuyên suốt quá trình lưu trữ, vận chuyển và cung ứng, để người bệnh nhận được sản phẩm có chất lượng được bảo đảm theo tiêu chuẩn của nhà sản xuất.
Song song đó, Long Châu sẽ tiếp tục mở rộng hợp tác chiến lược với các hãng dược phẩm hàng đầu thế giới nhằm đưa thêm các thuốc phát minh và giải pháp điều trị hiện đại về Việt Nam.
Mục tiêu là từng bước giảm bớt rào cản về chi phí, giúp người bệnh có thêm cơ hội bắt đầu điều trị sớm, duy trì điều trị liên tục và tuân thủ tốt hơn phác đồ do bác sĩ chỉ định. Dự kiến trong năm 2026, Hệ thống Nhà thuốc Long Châu sẽ đưa thêm hơn 30 loại thuốc thế hệ mới và thuốc hiếm, tập trung vào các lĩnh vực có nhu cầu điều trị lớn như ung thư, bệnh hiếm và các bệnh mạn tính phức tạp.
Chúng tôi tin rằng, khi kết hợp giữa phương pháp hiện đại, nguồn cung thuốc sớm và ổn định, hệ thống bảo quản đạt chuẩn, đội ngũ chuyên môn được đào tạo bài bản và mạng lưới chăm sóc sức khỏe rộng khắp, Long Châu sẽ chung tay góp phần xóa nhòa ranh giới địa lý, thu hẹp khoảng cách trong trải nghiệm chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Bên cạnh việc mở rộng phạm vi chi trả đối với thuốc điều trị đích, nhiều chuyên gia cũng mong muốn BHYT xem xét hỗ trợ chi phí dinh dưỡng trong điều trị ung thư.
Thạc sĩ Nguyễn Trí Dũng - Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế):
Hiện nay, mức đóng bảo hiểm y tế của Việt Nam vẫn còn tương đối thấp, chỉ ở mức 4,5% tiền lương. Tổng thu Quỹ bảo hiểm y tế mỗi năm khoảng 160.000 tỷ đồng, trong khi nhu cầu chi cho khám, chữa bệnh liên tục gia tăng và nhiều năm quỹ phải chi vượt dự toán.
Khoản kết dư của quỹ trong những năm gần đây chủ yếu được hình thành trong giai đoạn dịch COVID-19, khi số lượt khám chữa bệnh giảm, tạo dư địa để bù đắp cho những khoản chi vượt dự toán ở các năm tiếp theo. Đối với đề xuất đưa dinh dưỡng điều trị vào phạm vi chi trả của bảo hiểm y tế, chúng tôi rất lắng nghe các ý kiến từ chuyên gia, đặc biệt là từ các bác sĩ trực tiếp điều trị bệnh nhân ung thư.
Những chia sẻ tại hội thảo hôm nay giúp cơ quan xây dựng chính sách có thêm góc nhìn đầy đủ hơn về vai trò của dinh dưỡng trong điều trị ung thư.
Hiện Vụ Bảo hiểm y tế đang rà soát danh mục thuốc và các nội dung liên quan để nghiên cứu khả năng bổ sung những sản phẩm dinh dưỡng phục vụ điều trị vào phạm vi thanh toán.
Tuy nhiên, việc mở rộng quyền lợi phải được cân nhắc trên cơ sở bảo đảm cân đối Quỹ bảo hiểm y tế. Trong thời gian tới, nếu điều kiện của quỹ cho phép, đặc biệt khi có thể nâng mức đóng bảo hiểm y tế theo lộ trình phù hợp, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, xem xét việc hỗ trợ các sản phẩm dinh dưỡng phục vụ điều trị ung thư. Mục tiêu là từng bước giảm gánh nặng tài chính, giúp người bệnh tiếp cận đầy đủ hơn với các giải pháp điều trị toàn diện.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Vì sao dinh dưỡng lâm sàng vẫn thường được xem là hoạt động hỗ trợ, thay vì là một cấu phần chính thức trong phác đồ điều trị? Việc chờ đến khi người bệnh sụt cân, suy kiệt mới can thiệp có phải đã quá muộn?
Tiến sĩ, Bác sĩ Lưu Ngân Tâm - Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy:
Hiện nay, một trong những rào cản lớn nhất là chi phí dinh dưỡng điều trị vẫn do người bệnh tự chi trả.
Nhiều bệnh nhân tốn rất nhiều tiền cho điều trị đặc hiệu nhưng bữa ăn phục vụ điều trị lại chưa được bảo hiểm thanh toán, nên không ít bệnh viện chưa thể triển khai đồng bộ chế độ ăn bệnh lý.
Theo tôi, dinh dưỡng cần được can thiệp từ sớm, phù hợp với từng bệnh lý, thay vì chờ người bệnh suy kiệt mới điều trị. Tôi mong bảo hiểm y tế sớm chi trả cho dinh dưỡng qua đường tiêu hóa vì đây là phương pháp sinh lý, hiệu quả, giúp tăng miễn dịch, kiểm soát rối loạn chuyển hóa và giảm chi phí điều trị so với nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Thưa Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Anh Tú, Phó Giám đốc Bệnh viện K, Chánh Văn phòng Hội Ung thư Việt Nam, từ thực tế điều trị tại Bệnh viện K, ông đánh giá như thế nào về vai trò của dinh dưỡng đối với hiệu quả điều trị ung thư?
Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Anh Tú:
Tôi hoàn toàn đồng tình dinh dưỡng là một phần không thể thiếu trong điều trị ung thư. Dinh dưỡng tốt giúp vết mổ mau lành, giảm biến chứng, tăng khả năng đáp ứng với các phương pháp điều trị và góp phần rút ngắn thời gian điều trị cho người bệnh.
Tại Bệnh viện K, tất cả bệnh nhân được sàng lọc và đánh giá tình trạng dinh dưỡng ngay từ đầu. Trên cơ sở đó, chúng tôi xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp để người bệnh có đủ thể trạng bước vào quá trình điều trị. Khi bệnh nhân được bảo đảm về dinh dưỡng, hiệu quả điều trị cũng sẽ được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên, không phải cơ sở y tế nào cũng đáp ứng được yêu cầu này. Các bệnh viện lớn như Bệnh viện K, Bệnh viện Chợ Rẫy hay Bệnh viện Ung bướu TPHCM đều đã có khoa dinh dưỡng và đội ngũ chuyên môn phối hợp chặt chẽ với các bác sĩ điều trị ung thư.
Trong khi đó, nhiều bệnh viện tuyến dưới vẫn còn thiếu bác sĩ dinh dưỡng, thiếu nhân lực và nguồn lực để triển khai mô hình chăm sóc toàn diện cho người bệnh.
Theo tôi, trong mô hình điều trị ung thư hiện đại, chuyên khoa dinh dưỡng phải là một mắt xích quan trọng của nhóm điều trị đa chuyên khoa. Dinh dưỡng không chỉ hỗ trợ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị và tiên lượng của người bệnh. Đối với nhiều loại ung thư, vai trò của dinh dưỡng càng trở nên đặc biệt quan trọng.
Chẳng hạn, với bệnh nhân ung thư thực quản, tại Bệnh viện K, hầu hết người bệnh đều được mở thông dạ dày trước khi điều trị nhằm bảo đảm cung cấp đầy đủ dinh dưỡng trong suốt quá trình hóa trị hoặc xạ trị.
Tương tự, ở các bệnh nhân ung thư vùng đầu - cổ hay ung thư đường tiêu hóa, việc duy trì tình trạng dinh dưỡng tốt là yếu tố quyết định giúp người bệnh có thể theo đuổi đầy đủ phác đồ điều trị và nâng cao hiệu quả điều trị.
Tuy nhiên, hiện nay việc bảo đảm dinh dưỡng cho người bệnh vẫn còn nhiều khó khăn. Bệnh nhân ung thư phần lớn là người cao tuổi, thường mắc kèm nhiều bệnh lý nền nên nhu cầu dinh dưỡng rất đa dạng. Việc xây dựng và cung cấp các suất ăn bệnh lý phù hợp không hề đơn giản, trong khi bảo hiểm y tế hiện chưa có cơ chế chi trả cho lĩnh vực này.
Tại Bệnh viện K, chúng tôi may mắn nhận được sự đồng hành của nhiều tổ chức, doanh nghiệp và các nhà hảo tâm thông qua hoạt động xã hội hóa. Mỗi ngày, bệnh viện có thể cung cấp khoảng 600-700 suất ăn miễn phí cho người bệnh vào buổi sáng và buổi chiều.
Đây là nguồn hỗ trợ rất ý nghĩa, góp phần giảm bớt gánh nặng cho người bệnh và gia đình. Tôi mong rằng mô hình này sẽ tiếp tục được nhân rộng, thu hút thêm sự chung tay của cộng đồng và doanh nghiệp để hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư, nhất là trong bối cảnh người bệnh còn phải đối mặt với rất nhiều chi phí điều trị khác.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Dinh dưỡng và tình trạng suy mòn xuất hiện sớm ở bệnh nhân ung thư thường bị bỏ qua. Điều này ảnh hưởng như thế nào đến khả năng chịu đựng hóa trị, xạ trị và hiệu quả điều trị của người bệnh?
Tiến sĩ, Bác sĩ Lưu Ngân Tâm - Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy:
Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi xem dinh dưỡng là một phần bắt buộc trong điều trị. Khi triển khai bệnh án điện tử, bệnh viện đã tích hợp quy trình sàng lọc và đánh giá dinh dưỡng ngay từ đầu. Quan điểm của chúng tôi là trước khi điều trị bằng thuốc thì người bệnh phải được đảm bảo dinh dưỡng.
Đối với bệnh nhân ung thư, bản thân khối u đã tiêu hao năng lượng và "ăn mòn" cơ thể. Vì vậy, không thể nhịn ăn để bỏ đói khối u. Ngược lại, khi thiếu dinh dưỡng, khối u sẽ lấy cơ và mỡ của chính cơ thể để phát triển. Do đó, quan điểm ăn kiêng quá mức trong quá trình điều trị ung thư là hoàn toàn sai.
Hiện nay, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư ngay từ lần khám đầu tiên tại Việt Nam dao động từ 40-85%, cao hơn nhiều so với thế giới. Khi người bệnh suy dinh dưỡng, nguy cơ nhiễm trùng, chậm lành vết mổ, viêm phổi và suy chức năng các cơ quan đều tăng lên.
Đối với hóa trị và các liệu pháp điều trị toàn thân, suy dinh dưỡng làm giảm albumin trong máu, khiến độc tính của nhiều loại thuốc tăng lên. Đồng thời, người bệnh suy kiệt thường không đủ sức theo hết phác đồ, bác sĩ buộc phải giảm liều hoặc gián đoạn điều trị, làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.
Ngoài ra, suy mòn, mất khối cơ còn làm giảm chất lượng sống, khiến người bệnh mất khả năng sinh hoạt độc lập, cần người thân chăm sóc, từ đó tạo thêm gánh nặng kinh tế cho gia đình. Có thể khẳng định, sụt cân và suy mòn là một yếu tố tiên lượng độc lập, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị và tiên lượng sống của bệnh nhân ung thư.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Trong lĩnh vực xét nghiệm gen, chất lượng và độ tin cậy là nền tảng để tạo dựng niềm tin với bác sĩ và người bệnh. Gene Solutions định hướng đầu tư và phát triển hệ thống chất lượng, năng lực chuyên môn cũng như quy trình vận hành như thế nào để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế và mang đến những kết quả xét nghiệm có giá trị lâm sàng?
Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Duy Sinh - Giám Đốc Y khoa Gene Solutions:
Gene Solutions là đơn vị chuyên về xét nghiệm giải trình tự gen thế hệ mới (NGS). Công nghệ này hiện được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như sinh thiết lỏng để phát hiện DNA của khối u trong máu, xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn, tầm soát và phát hiện sớm đa ung thư, lựa chọn điều trị nhắm trúng đích, điều trị miễn dịch cũng như theo dõi đáp ứng điều trị của bệnh nhân ung thư.
Với các xét nghiệm NGS, chất lượng và độ tin cậy luôn là yếu tố quan trọng nhất. Vì vậy, Gene Solutions đầu tư bài bản vào hệ thống quản lý chất lượng nhằm đảm bảo kết quả xét nghiệm có độ chính xác cao, đáp ứng yêu cầu của bác sĩ trong thực hành lâm sàng.
Gene Solutions phát triển mạng lưới xét nghiệm tại 14 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Về năng lực chuyên môn, các phòng xét nghiệm của Gene Solutions tại TP.HCM và Singapore đạt chứng nhận của College of American Pathologists (CAP) đối với lĩnh vực xét nghiệm giải trình tự gen thế hệ mới. Đây là một trong những tiêu chuẩn chất lượng uy tín hàng đầu thế giới trong lĩnh vực xét nghiệm y khoa.
Bên cạnh đó, Gene Solutions cũng định kỳ tham gia các chương trình ngoại kiểm quốc tế để đánh giá chất lượng xét nghiệm, trong đó có chương trình của EMQN (European Molecular Genetics Quality Network) tại Vương quốc Anh. Việc tham gia ngoại kiểm thường xuyên giúp chúng tôi đối chiếu kết quả với các phòng xét nghiệm hàng đầu trên thế giới, từ đó duy trì và không ngừng nâng cao độ chính xác của xét nghiệm.
Ngoài năng lực phòng xét nghiệm, toàn bộ hóa chất, quy trình xét nghiệm và hệ thống quản lý chất lượng của Gene Solutions đều đáp ứng các tiêu chuẩn và chứng nhận quốc tế, bao gồm các chứng nhận của Bộ Y tế và hệ thống quản lý chất lượng ISO.
Đây là nền tảng quan trọng để chúng tôi mang đến những kết quả xét nghiệm có giá trị lâm sàng, hỗ trợ bác sĩ đưa ra quyết định điều trị chính xác và cá thể hóa cho từng bệnh nhân ung thư.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Thưa Thạc sĩ Nguyễn Trí Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm Y tế (Bộ Y tế), chi phí điều trị ung thư, đặc biệt đối với thuốc điều trị đích, thuốc miễn dịch và các kỹ thuật hiện đại, vẫn là gánh nặng rất lớn đối với nhiều gia đình. Quan điểm của ông về việc mở rộng phạm vi chi trả của bảo hiểm y tế đối với các phương pháp điều trị tiên tiến này như thế nào?
Thạc sĩ Nguyễn Trí Dũng:
Ngày 9/9/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 72 về một số giải pháp đột phá trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Một trong những nội dung rất quan trọng của nghị quyết là tăng cường khám sàng lọc, phát hiện sớm một số bệnh để giảm gánh nặng bệnh tật cũng như chi phí điều trị cho người dân.
Để triển khai Nghị quyết 72, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng, trong đó giao Bộ Y tế thực hiện nhiều nhiệm vụ. Hai nhiệm vụ đáng chú ý là xây dựng lộ trình mở rộng phạm vi chi trả của bảo hiểm y tế đối với các dịch vụ khám sàng lọc, phát hiện sớm phù hợp với khả năng của quỹ bảo hiểm y tế; đồng thời định kỳ khoảng hai năm một lần rà soát, cập nhật danh mục thuốc được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán.
Thực hiện chỉ đạo này, Vụ Bảo hiểm y tế đang tích cực phối hợp với Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các đơn vị liên quan đánh giá toàn diện các thuốc được đề xuất đưa vào danh mục bảo hiểm y tế, trong đó có nhiều thuốc điều trị ung thư có giá trị cao. Thông qua hoạt động đánh giá công nghệ y tế (HTA), chúng tôi cũng làm việc với các doanh nghiệp dược để đàm phán về giá. Nhiều doanh nghiệp đã đồng thuận giảm giá thuốc khi đưa vào danh mục bảo hiểm y tế.
Đây là giải pháp rất quan trọng, bởi ngoài phần được quỹ bảo hiểm chi trả, người bệnh vẫn phải đồng chi trả theo mức hưởng 80% hoặc 95%. Khi giá thuốc giảm, gánh nặng tài chính của người bệnh cũng sẽ giảm đáng kể.
Bên cạnh đó, đối với các thuốc biệt dược gốc và thuốc sinh học tham chiếu có giá thành rất cao, Bộ Y tế đã triển khai Chương trình hỗ trợ thuốc (Patient Assistance Program - PAP) từ năm 2019. Đến nay đã có khoảng 19 chương trình hỗ trợ được triển khai, với tổng giá trị thuốc hỗ trợ hơn 1.900 tỷ đồng.
Đây là nguồn hỗ trợ rất lớn, góp phần giúp nhiều bệnh nhân ung thư có cơ hội tiếp cận các thuốc điều trị tiên tiến. Gần đây, thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền của Chính phủ, Bộ Y tế cũng đã sửa đổi các quy định liên quan đến chương trình hỗ trợ thuốc theo hướng giao quyền chủ động cho các cơ sở kinh doanh dược phối hợp với các cơ sở khám, chữa bệnh triển khai chương trình.
Thay vì phải trình Bộ Y tế phê duyệt từng chương trình như trước đây, quy trình mới sẽ giúp người bệnh tiếp cận các chương trình hỗ trợ nhanh chóng, thuận lợi và hiệu quả hơn. Trong thời gian tới, Vụ Bảo hiểm y tế sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan để mở rộng khả năng tiếp cận thuốc, kỹ thuật điều trị tiên tiến, đồng thời giảm bớt gánh nặng tài chính cho người bệnh ung thư thông qua các chính sách bảo hiểm y tế và các chương trình hỗ trợ phù hợp.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Một vấn đề từ người dân quan tâm là hiện nay là tỷ lệ ung thư nhất là ung thư dạ dày đang gia tăng ở người Việt, lối sống, ăn uống đang là nguyên nhân?
Phó giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Võ Duy Long - Phó trưởng khoa Ngoại tiêu hoá - Bệnh viện Đại học Y dược TPHCM:
Tại Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, cũng như nhiều bệnh viện chuyên khoa ung bướu khác, số lượng bệnh nhân ung thư ngày càng tăng, dẫn đến tình trạng quá tải. Có những bệnh nhân phải chờ hơn hai tuần mới được nhập viện điều trị.
Đây cũng là vấn đề mà Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Anh Tú vừa đề cập: làm thế nào để giảm áp lực cho các bệnh viện tuyến cuối. Theo tôi, trong công tác phòng, chống ung thư, điều quan trọng nhất vẫn là phòng ngừa và phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, thay vì chờ đến khi bệnh tiến triển mới điều trị.
Muốn làm được điều đó, chúng ta cần có những chính sách mạnh mẽ ở tầm quốc gia. Lấy ví dụ với ung thư dạ dày - một trong những loại ung thư có tỷ lệ mắc cao tại Việt Nam - chúng ta cần xây dựng chương trình tầm soát quốc gia tương tự như Nhật Bản hay Hàn Quốc.
Chẳng hạn, người từ 40 tuổi trở lên hoặc những người thuộc nhóm nguy cơ cao nên được nội soi tầm soát định kỳ. Sau khi sàng lọc, cần có chiến lược theo dõi phù hợp theo từng nhóm đối tượng.
Tương tự, đối với ung thư gan, những người mắc viêm gan B hoặc viêm gan C mạn tính cần được quản lý, siêu âm và theo dõi định kỳ để phát hiện bệnh sớm. Hay với ung thư cổ tử cung, ung thư phổi và nhiều loại ung thư khác, chúng ta cũng cần có các chương trình tầm soát bài bản ở quy mô quốc gia.
Chỉ khi có chiến lược đồng bộ như vậy, chúng ta mới có thể giảm tỷ lệ mắc mới và nâng cao hiệu quả điều trị. Bên cạnh tầm soát, điều trị ung thư hiện nay cũng đã có nhiều bước tiến vượt bậc. Rất nhiều thuốc mới, đặc biệt là các thuốc điều trị đích và thuốc nhắm trúng đích phân tử, đã chứng minh hiệu quả trên thế giới. Tuy nhiên, để người bệnh tại Việt Nam được tiếp cận những thành tựu này vẫn còn nhiều rào cản.
Trước hết là quá trình cấp phép để thuốc mới được lưu hành tại Việt Nam. Sau đó là vấn đề bảo hiểm y tế.
Theo tôi, cần có những chính sách phù hợp để đẩy nhanh việc đưa các thuốc điều trị tiên tiến vào thực hành lâm sàng, đồng thời mở rộng phạm vi chi trả của bảo hiểm y tế. Ngay cả khi bảo hiểm chỉ hỗ trợ một phần chi phí cũng sẽ giúp giảm đáng kể gánh nặng tài chính cho người bệnh.
Tóm lại, tôi mong muốn có hai chính sách trọng tâm. Thứ nhất là sớm xây dựng chương trình tầm soát ung thư quốc gia đối với các loại ung thư phổ biến. Thứ hai là tạo điều kiện để người bệnh được tiếp cận nhanh hơn với các thuốc điều trị mới, đồng thời có cơ chế bảo hiểm y tế chi trả phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và kéo dài cơ hội sống cho người bệnh.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Khoảng cách về khả năng chẩn đoán và điều trị ung thư giữa các tuyến y tế, giữa thành thị và nông thôn hiện nay ra sao? Cần làm gì để người bệnh ở các địa phương được tiếp cận điều trị sớm và bình đẳng hơn?
Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Anh Tú:
Mục tiêu lớn nhất của chúng tôi là mọi người bệnh, dù ở bất cứ địa phương nào cũng được tiếp cận dịch vụ chẩn đoán và điều trị ung thư một cách công bằng.
Thời gian qua, ngành ung bướu đã triển khai nhiều chương trình đào tạo, phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh và chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến tỉnh.
Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, địa phương phải đáp ứng nhiều điều kiện như có trang thiết bị, có đội ngũ nhân lực được đào tạo và có đủ số lượng người bệnh để duy trì, nâng cao tay nghề. Có những bệnh lý hiếm gặp mà cả năm chỉ có một trường hợp nên bác sĩ rất khó tích lũy kinh nghiệm chuyên môn.
Theo tôi, cần tăng cường kết nối giữa các bệnh viện chuyên khoa ung bướu tuyến trung ương với các cơ sở y tế địa phương. Những trường hợp ung thư ở giai đoạn sớm hoàn toàn có thể được chẩn đoán và điều trị ngay tại tuyến tỉnh.
Chỉ những ca bệnh phức tạp, cần kỹ thuật chuyên sâu mới chuyển lên tuyến trên. Đây là giải pháp giúp nâng cao hiệu quả điều trị, đồng thời giảm áp lực quá tải cho các bệnh viện trung ương.
Bên cạnh đó, ngành bảo hiểm y tế cũng cần nghiên cứu mở rộng phạm vi chi trả đối với các thuốc và kỹ thuật điều trị ung thư tại tuyến tỉnh. Khi người bệnh được tiếp cận thuốc ngay tại địa phương, họ sẽ giảm đáng kể chi phí đi lại, ăn ở và thời gian điều trị.
Ngoài ra, chúng tôi đang đẩy mạnh các chương trình hội chẩn từ xa và hội chẩn đa chuyên khoa. Thông qua hệ thống này, các bác sĩ tuyến dưới có thể trao đổi trực tiếp với chuyên gia ở tuyến trung ương để thống nhất phác đồ điều trị.
Người bệnh sẽ được hưởng chất lượng chuyên môn cao ngay tại địa phương, không nhất thiết phải chuyển lên bệnh viện tuyến trên, qua đó vừa giảm quá tải cho các bệnh viện trung ương, vừa tiết kiệm chi phí cho người bệnh.
Nhà báo Lý Thành Tâm:
Thưa Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Anh Tú, mong bác sĩ cho biết thực trạng số ca mắc mới và tử vong do ung thư tại Việt Nam hiện nay đang đặt ra những thách thức lớn nào đối với hệ thống y tế?
Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Anh Tú:
Theo dự báo, đến năm 2050, số ca mắc ung thư sẽ tiếp tục gia tăng. Nguyên nhân đến từ nhiều yếu tố như già hóa dân số, thay đổi lối sống và các yếu tố nguy cơ từ môi trường. Đây là thách thức rất lớn đối với hệ thống y tế, đặc biệt là chuyên ngành ung thư.
Phần lớn bệnh nhân vẫn đến khám và được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, khiến cơ hội điều trị khỏi giảm đáng kể, trong khi chi phí điều trị cao. Năng lực điều trị giữa các tuyến y tế vẫn chưa đồng đều. Nhiều địa phương thiếu trang thiết bị, thiếu nhân lực chuyên sâu về ung bướu.
Qua khảo sát, nguồn nhân lực chuyên ngành ung thư còn thiếu hụt. Nhiều bệnh nhân chưa có điều kiện tiếp cận kỹ thuật xét nghiệm hiện đại, thuốc điều trị đích và các phương pháp điều trị tiên tiến. Ngoài ra, vấn đề dinh dưỡng cho người bệnh cũng chưa được quan tâm đúng mức, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả điều trị.
Tại các bệnh viện chuyên khoa như Bệnh viện K hay Bệnh viện Ung bướu TPHCM, chúng tôi luôn hướng đến chăm sóc người bệnh một cách toàn diện. Tuy nhiên, gánh nặng chi phí điều trị vẫn rất lớn và kết quả điều trị chưa đạt được như mong muốn.
Để giải quyết những thách thức, cần triển khai mạnh mẽ Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống ung thư với cách tiếp cận toàn diện, từ phòng ngừa các yếu tố nguy cơ, sàng lọc và phát hiện sớm, đến điều trị đa mô thức, phối hợp đa chuyên khoa, đồng thời tăng cường theo dõi, chăm sóc giảm nhẹ và chăm sóc người bệnh trong suốt quá trình điều trị cũng như giai đoạn cuối đời.
Nhà báo Lý Thành Tâm, Ủy viên Ban Biên tập, Trưởng Ban Đại diện báo Tiền Phong tại TPHCM:
Trong phần trình bày tham luận, bác sĩ có nói đến nhiều điểm nghẽn trong điều trị ung thư nhi, vậy làm sao để tháo gỡ các điểm nghẽn, thưa bác sĩ?
Bác sĩ CKII Nguyễn Đình Văn, Trưởng Khoa Ung bướu - Huyết học, Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM:
Giải pháp quan trọng nhất là phải tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các bệnh viện tuyến trung ương và các bệnh viện tuyến vệ tinh. Khi các bệnh viện vệ tinh có thể đảm nhận tốt việc chăm sóc, điều trị những bệnh lý thông thường hoặc các giai đoạn điều trị nhẹ cho bệnh nhi ung thư, tải lượng bệnh nhân dồn lên tuyến trên sẽ giảm đáng kể. Nhờ đó, các bệnh viện trung ương giải phóng được nguồn lực để tập trung tiếp nhận bệnh nhân mới cũng như điều trị các ca bệnh nặng, phức tạp.
Việc mở rộng các cơ sở và trung tâm điều trị ung thư nhi là nhu cầu cấp thiết. Nhìn lại lịch sử điều trị tại khu vực phía Nam, trước năm 2011 chỉ có duy nhất Bệnh viện Nhi đồng 1 đảm nhận công tác này.
Đến năm 2011, Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM bắt đầu tham gia điều trị. Ban đầu lượng bệnh nhân còn thưa vắng nhưng chỉ trong vòng 5 năm sau đã rơi vào tình trạng rất đông.
Giai đoạn 2018-2019, Bệnh viện Nhi đồng Thành phố tiếp tục đi vào hoạt động nhưng cũng chỉ sau khoảng 5 năm, cơ sở này lại tiếp tục quá tải. Thực tế này cho thấy nhu cầu điều trị ung thư nhi tăng rất nhanh theo thời gian, đòi hỏi ngành y tế phải tiếp tục mở rộng quy mô và nâng cao năng lực cho y tế địa phương. Khi y tế tuyến dưới đủ sức gánh vác các tình trạng bệnh trong tầm tay, áp lực cho tuyến trung ương sẽ giảm bớt đáng kể.
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội TPHCM:
Trong những năm qua, Bảo hiểm y tế (BHYT) khẳng định vai trò là trụ cột an sinh xã hội cốt lõi, bảo đảm bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Đứng trước sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh mãn tính không lây nhiễm, đặc biệt là bệnh ung thư - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và kiệt quệ tài chính cho hộ gia đình - BHYT không chỉ đóng vai trò là “bà đỡ” tài chính mà còn là công cụ điều tiết quan trọng giúp người bệnh tiếp cận các giải pháp điều trị tiên tiến.
Tuy nhiên, đi cùng với hiệu quả điều trị vượt trội là chi phí cao. Nhiều phác đồ điều trị có giá từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng mỗi người bệnh mỗi năm.
Nếu không có chính sách BHYT, phần lớn người bệnh sẽ không có khả năng tiếp cận các phương pháp điều trị tiên tiến này. Theo số liệu từ Tổ chức Ung thư Toàn cầu (GLOBOCAN), gánh nặng ung thư tại Việt Nam đang gia tăng đáng kể. Mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 180.400 ca mắc mới và hơn 120.180 ca tử vong do ung thư.
Các loại ung thư phổ biến như ung thư gan (chiếm 14,5%), ung thư phổi (14,4%), ung thư vú (13,2%), ung thư dạ dày (9,8%) và ung thư đại trực tràng (9%). Trong năm 2025, có 1.195.512 lượt khám chữa bệnh ung thư ở TPHCM. BHYT thanh toán 4.860 tỷ đồng.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, có 619.166 lượt khám chữa bệnh ung thư ở TPHCM. BHYT thanh toán 2.478 tỷ đồng. Trong điều trị ung thư hiện đại, thuốc điều trị đích đã tạo nên bước ngoặt quan trọng. Khác với hóa trị truyền thống, thuốc điều trị đích tác động chọn lọc lên các tế bào ung thư thông qua các cơ chế phân tử đặc hiệu, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và giảm tác dụng không mong muốn.
Chính sách BHYT từng bước mở rộng phạm vi thanh toán, giúp người bệnh có cơ hội tiếp cận các thuốc tiên tiến mà trước đây rất khó có khả năng chi trả. Theo thống kê, Quỹ BHYT đã thanh toán cho nhóm thuốc điều trị đích từ 2024 đến tháng 6/2026 chiếm khoảng 3.925 tỷ đồng.
Nhiều hoạt chất có chi phí thanh toán rất lớn như Bevacizumab, Trastuzumab, Rituximab, Imatinib, Cetuximab, Nilotinib, Gefitinib và Afatinib. Điều này cho thấy BHYT đã góp phần rất quan trọng trong việc đưa các thành tựu y học hiện đại đến gần hơn với người bệnh.
Đối với nhiều gia đình, việc được Quỹ BHYT thanh toán đã giúp giảm đáng kể chi phí điều trị, tạo điều kiện để người bệnh tuân thủ phác đồ, kéo dài thời gian sống và cải thiện chất lượng cuộc sống. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc mở rộng thanh toán thuốc điều trị đích cũng đặt ra nhiều thách thức.
Chi phí điều trị tiếp tục gia tăng với tốc độ cao, trong khi số lượng người bệnh ung thư ngày càng nhiều và thời gian điều trị kéo dài. Các thuốc điều trị đích, thuốc sinh học và thuốc miễn dịch liên tục được nghiên cứu, phát triển với giá thành rất cao, tạo áp lực lớn đối với khả năng cân đối Quỹ BHYT. Việc cập nhật danh mục thuốc, hướng dẫn chuyên môn và cơ chế thanh toán cần được thực hiện kịp thời để người bệnh sớm được hưởng thành quả của tiến bộ khoa học.
Yêu cầu kiểm soát sử dụng thuốc hợp lý, đúng chỉ định ngày càng trở nên cấp thiết nhằm bảo đảm hiệu quả điều trị và sử dụng Quỹ BHYT đúng mục đích. Một số thuốc đích dù đã có trong danh mục nhưng chỉ được BHYT chi trả 50%, người bệnh vẫn phải tự trả 30 - 60 triệu đồng/tháng, nằm ngoài khả năng chi trả của đại đa số người dân. Mức đóng BHYT tại Việt Nam hiện nay còn khá thấp (4,5% lương cơ sở/lương tháng), trong khi phạm vi quyền lợi thuộc nhóm cao so với các nước có cùng mức phát triển.
Nguy cơ vượt chi Quỹ BHYT ở nhiều địa phương do chi phí khám chữa bệnh ung thư tăng cao, đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ, chống lạm dụng, trục lợi và sử dụng lãng phí dịch vụ y tế.
Để tiếp tục phát huy hiệu quả của chính sách BHYT trong thanh toán thuốc điều trị đích, chúng tôi xin đề xuất Chính phủ tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính, tạo điều kiện cho hoạt động đàm phán giá thuốc và hỗ trợ các chương trình điều trị đối với bệnh có chi phí cao.
Tăng ngân sách dự phòng cho các bệnh hiểm nghèo và hỗ trợ đóng BHYT cho nhóm yếu thế. Bộ Y tế đẩy nhanh việc cập nhật danh mục thuốc BHYT trên cơ sở đánh giá công nghệ y tế, xây dựng hướng dẫn sử dụng thuốc điều trị đích thống nhất; tăng cường quản lý sử dụng thuốc theo bằng chứng khoa học.
Thành lập Hội đồng Đánh giá Công nghệ Y tế (HTA) quốc gia độc lập để làm căn cứ phê duyệt chi trả. Mở rộng danh mục thuốc generic/biosimilar trị ung thư được BHYT thanh toán ở tuyến dưới.
Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, sử dụng thuốc điều trị đích đúng chỉ định, bảo đảm hiệu quả điều trị. Tăng cường cập nhật phác đồ chuyên môn và chia sẻ dữ liệu phục vụ công tác quản lý Quỹ BHYT. Tăng cường hội chẩn đa chuyên khoa (MDT) để lựa chọn phác đồ tối ưu, tiết kiệm chi phí. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, liên thông dữ liệu xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh giữa các tuyến...
Phó giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Hà Văn Thiệu, Trưởng Khoa Y Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng:
Ung thư đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với sức khỏe cộng đồng trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, làm gia tăng gánh nặng kinh tế và cho thấy mô hình bệnh tật đã chuyển dịch từ các bệnh truyền nhiễm sang các bệnh không lây nhiễm.
Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc chiến phòng, chống ung thư. Thời gian tới, chương trình đào tạo cần được rà soát và cập nhật theo hướng phù hợp với mô hình bệnh tật hiện nay.
Những bệnh đã được thanh toán hoặc rất hiếm gặp có thể giảm thời lượng giảng dạy, trong khi cần tăng cường đào tạo về ung thư, đặc biệt là các nội dung liên quan đến dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán và điều trị. Hiện nay, sự phát triển của y học chính xác, trí tuệ nhân tạo (AI), sinh học phân tử và các liệu pháp điều trị mới đang mở ra nhiều cơ hội trong chẩn đoán, điều trị và dự phòng ung thư.
Tuy nhiên, để chuyển hóa thành tựu đó thành hiệu quả thực tiễn, yếu tố quyết định vẫn là nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, có đủ năng lực tiếp cận và làm chủ các công nghệ mới. Cần nhìn nhận thực tế vẫn còn sự bất bình đẳng trong chăm sóc ung thư giữa các quốc gia.
Tỷ lệ sống thêm 5 năm của bệnh nhân ung thư vú ở các nước có thu nhập cao đạt khoảng 87%, trong khi ở các nước thu nhập thấp chỉ khoảng 42%. Đối với ung thư trẻ em, tỷ lệ sống tại các nước thu nhập cao cũng cao gấp đôi.
Khoảng cách này phản ánh sự khác biệt về năng lực phòng ngừa, phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị và chất lượng nguồn nhân lực y tế. Vì vậy, đào tạo nhân lực cần được triển khai theo hướng đa chuyên ngành với sự tham gia của bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, kỹ thuật viên xét nghiệm, chuyên gia dinh dưỡng, phục hồi chức năng và tâm lý.
Đồng thời, cần chú trọng đào tạo chuyên sâu ở các lĩnh vực như giải phẫu bệnh, sinh học phân tử, chẩn đoán hình ảnh, y học hạt nhân và xét nghiệm di truyền để nâng cao năng lực chẩn đoán chính xác và phát hiện ung thư từ giai đoạn sớm.
Tại Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, trong chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa, nội dung về ung thư hiện được giảng dạy ở năm thứ năm. Sau hội nghị này, chúng tôi sẽ tham mưu Ban Giám hiệu tiếp tục bổ sung các nội dung về chăm sóc giảm nhẹ, tăng cường hoạt động ngoại khóa và đào tạo dựa trên năng lực nhằm giúp sinh viên đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn.
Chúng tôi cũng đẩy mạnh đào tạo thông qua mô phỏng, thực hành lâm sàng, ứng dụng công nghệ số và các hình thức đào tạo trực tuyến. Song song đó là thúc đẩy nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tham gia phát triển các kỹ thuật chẩn đoán, điều trị mới, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y tế. Một nội dung rất quan trọng là nâng cao năng lực phát hiện sớm.
Đào tạo cần giúp người học nhận diện các yếu tố nguy cơ, chỉ định sàng lọc phù hợp và thực hiện đúng quy trình chuyển tuyến để người bệnh được chẩn đoán và điều trị ngay từ giai đoạn đầu, bởi phát hiện sớm luôn là yếu tố quyết định hiệu quả điều trị ung thư.
Bên cạnh điều trị, chăm sóc toàn diện người bệnh cũng cần được quan tâm. Chăm sóc ung thư không chỉ là điều trị khối u mà còn bao gồm chăm sóc giảm nhẹ, hỗ trợ tâm lý, dinh dưỡng, phục hồi chức năng và chăm sóc người cao tuổi.
Đây là xu hướng đào tạo mà chúng tôi sẽ tiếp tục tham mưu và triển khai trong thời gian tới. Theo nhiều nghiên cứu, khoảng 30-50% trường hợp ung thư có thể phòng ngừa được nếu kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ, đẩy mạnh truyền thông, tiêm vắc-xin đối với các bệnh có chỉ định và triển khai hiệu quả các chương trình sàng lọc trong cộng đồng. Vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực y tế không chỉ hướng đến điều trị mà còn phải trang bị đầy đủ năng lực dự phòng, tư vấn và giáo dục sức khỏe cho người dân.
Tôi tin rằng, với sự đổi mới trong đào tạo, sự phát triển của khoa học - công nghệ, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo, ngành y tế và các đối tác trong nước, quốc tế, chúng ta sẽ từng bước xây dựng được đội ngũ nhân lực y tế chất lượng cao, góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống ung thư và mang lại chất lượng sống tốt hơn cho người bệnh.
Tiến sĩ, bác sĩ Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy:
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân ung thư đang rất cao. Trên thế giới, trước khi bắt đầu điều trị, tỷ lệ này dao động từ 30-70%, còn tại Việt Nam dao động từ 45-85% tùy theo vùng miền và loại ung thư.
Nhiều bệnh nhân rơi vào tình trạng suy mòn, thiếu máu, sụt cân không mong muốn ngay từ khi mới phát hiện bệnh. Trong khi đó, các phương pháp điều trị đa mô thức dù ngày càng tiến bộ nhưng gây ra nhiều tác dụng phụ như nôn mửa, tiêu chảy, viêm loét miệng khiến bệnh nhân ăn uống kém và kiệt sức dần.
Bản thân khối u tiết ra các chất làm tiêu hao năng lượng và kích động hệ miễn dịch tăng tiết các yếu tố viêm. Tình trạng viêm dẫn đến phân hủy cơ xương, thậm chí cả cơ tim, làm giảm sức co bóp của tim. Vì vậy, người bệnh mệt mỏi hơn và nguy cơ tử vong cũng tăng lên. Khi bệnh nhân bị mất khối cơ, vết mổ sẽ khó lành hơn, nguy cơ nhiễm trùng cao hơn và thời gian nằm viện kéo dài hơn.
Đồng thời, độc tính của hóa trị tăng lên, buộc bác sĩ phải giảm liều hoặc gián đoạn điều trị. Các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân bị mất khối cơ có nguy cơ tử vong cao hơn khoảng 1,68 lần so với người có khối cơ bình thường. Đáng chú ý, khoảng 20% bệnh nhân ung thư tử vong do suy dinh dưỡng trước khi tử vong vì sự tiến triển của khối u.
Hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm sai lầm về dinh dưỡng. Không có bằng chứng khoa học nào cho thấy việc nhịn ăn hay áp dụng chế độ ăn nghèo năng lượng, kể cả chế độ Keto, có thể làm khối u teo lại. Người bệnh cũng không nên tốn kém tiền bạc vào các loại thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc vì điều đó không mang lại giá trị trong điều trị.
Tháng 6/2026, Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư. Theo đó, tất cả người bệnh cần được sàng lọc nguy cơ suy dinh dưỡng ngay từ đầu thông qua hệ thống bệnh án điện tử, phân tầng nguy cơ theo các mức xanh, vàng và đỏ để có kế hoạch can thiệp phù hợp.
Trong điều trị, chúng ta cần ưu tiên nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa bằng chế độ ăn phù hợp hoặc bổ sung dinh dưỡng đường uống thay vì chỉ dựa vào truyền dịch tĩnh mạch, bởi truyền dịch chỉ cung cấp khoảng 100 kcal. Nhu cầu protein của bệnh nhân ung thư cần tăng từ 20-100% so với người bình thường. Bên cạnh đó, có thể bổ sung Omega-3 để hỗ trợ kháng viêm và HMB để tăng tổng hợp, giảm thoái biến khối cơ.
Quan trọng nhất là phải xem dinh dưỡng lâm sàng là một phương pháp điều trị thực thụ, không chỉ là biện pháp hỗ trợ. Việc phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ điều trị và chuyên gia dinh dưỡng sẽ giúp người bệnh đủ sức khỏe để theo hết lộ trình điều trị, giảm biến chứng, giảm chi phí y tế, đồng thời cải thiện chất lượng và thời gian sống.
BS.CKII Nguyễn Đình Văn, Trưởng khoa Ung bướu - Huyết học, Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM:
Ung thư nhi ít ca hơn nhưng dễ bị bỏ quên. Khi nói đến ung thư, xã hội thường nghĩ đến người lớn vì số ca nhiều, truyền thông nhiều và nhiều bệnh viện cùng tham gia điều trị.
Cụ thể, đối với người lớn thì số bệnh nhân lớn, được nhắc đến thường xuyên. Nhiều bệnh viện đa khoa, chuyên khoa có thể điều trị theo từng cơ quan. Ví dụ như sản phụ khoa sẽ điều trị ung thư vú, cổ tử cung; chấn thương chỉnh hình điều trị ung thư xương…
Còn đối với trẻ em, số ca mới hằng năm thấp hơn rất nhiều. Nhiều người không nghĩ trẻ em cũng có thể bị ung thư. Việc điều trị chuyên sâu tập trung ở số ít trung tâm nhi, ung bướu và huyết học. Tính đến giữa năm 2026, Bệnh viện Nhi đồng 2 đang điều trị hơn 1.670 bệnh nhân, thời gian nằm viện trung bình khoảng 10 ngày.
Tới giữa tháng 6/2026, Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM có khoảng 400 ca ung thư mới. Ở quy mô toàn quốc, bệnh nhi bị ung thư ít hơn ung thư người lớn rất nhiều nhưng con số cũng không nhỏ với khoảng 3.000 - 3.500 người/năm.
Ung thư nhi là bệnh hiếm hơn về số lượng nên thường bị lu mờ trong thảo luận chính sách ung thư. Ung thư nhi ít hơn ung thư người lớn nên ít được chú ý, không có tầm soát thường quy như nhiều bệnh ung thư người lớn, chậm chẩn đoán hoặc chuyển tuyến, làm mất cơ hội chữa khỏi cho các bệnh nhi bị ung thư. Việc điều trị ung ung thư nhi rất quan trọng vì cơ hội cứu sống rất lớn. Khác với cảm giác “ung thư là tuyệt vọng”, nhiều ung thư trẻ em có thể chữa khỏi nếu chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời.
Tỷ lệ sống chung ước tính trong phân tích cắt ngang sơ bộ tại khoa là hơn 70%. Khi chữa khỏi trẻ bị ung thư là trả lại cả một cuộc đời phía trước. Ngoài ra, đây là nhóm bệnh có khả năng “đầu tư đúng - kết quả thấy được”. Chi phí thuốc nền tảng tương đối thấp. Cụ thể, nhiều phác đồ điều trị ung thư nhi dựa trên thuốc hóa trị kinh điển - generic đã sử dụng nhiều năm và có chi phí thấp hơn so với thuốc nhắm trúng đích hiện đại.
Số ca ung thư nhi ghi nhận tăng là tín hiệu tốt của hệ thống y tế, vì phát hiện sớm hơn chứ không chỉ là “bệnh nhiều hơn”. Khi hệ thống y tế phát triển, số ca được phát hiện và chuyển đến trung tâm điều trị sẽ tăng. Đây là dấu hiệu bệnh đang được nhìn thấy rõ hơn. Cụ thể, tuyến dưới nhận diện các dấu hiệu cảnh báo tốt hơn, giảm bỏ sót và chậm chẩn đoán. Quy trình chuyển tuyến, thông tuyến thuận lợi giúp trẻ đến trung tâm chuyên sâu kịp thời. Kinh tế gia đình và bảo hiểm y tế cải thiện, nhiều trẻ có cơ hội bắt đầu điều trị đúng phác đồ.
Thế nhưng, số ca được phát hiện tăng sẽ làm quá tải nếu năng lực điều trị, nhân lực và cơ sở vật chất không tăng tương ứng và tạo ra nhiều điểm nghẽn. Điểm nghẽn đầu tiên là thiếu cơ sở vật chất và mạng lưới điều trị. Ung thư nhi cần điều trị kéo dài, theo dõi sát và chăm sóc hỗ trợ liên tục nên quá tải không chỉ là thiếu giường, mà là thiếu cả hệ sinh thái điều trị. Trong khi đó, trung tâm chuyên sâu còn ít.
Bệnh nhân dồn về vài bệnh viện lớn, năng lực điều trị không tăng kịp số ca được phát hiện. Thiếu phòng ốc, giường bệnh. Điều trị hóa trị cần kiểm soát nhiễm trùng, truyền máu, theo dõi độc tính và lưu viện nhiều đợt. Tuyến dưới chưa đủ vai trò hỗ trợ và còn khó đảm nhận sốt giảm bạch cầu, truyền chế phẩm máu, theo dõi duy trì và phát hiện biến chứng.
Điểm nghẽn tiếp theo là thiếu nhân lực chuyên trách và chính sách giữ người. Hiện nay, ung thư nhi là chuyên ngành cường độ cao như chuyên môn sâu, chăm sóc liên tục, độc tính điều trị nặng và áp lực tâm lý lớn. Bác sĩ chuyên sâu còn thiếu khi cả nước có chưa tới 100 bác sĩ. Bác sĩ điều trị ung thư nhi cần kiến thức huyết học, ung bướu, nhi khoa, hồi sức, nhiễm trùng và chăm sóc giảm nhẹ.
Điều dưỡng ung thư nhi cần kỹ năng truyền hóa chất, theo dõi độc tính, chăm sóc và hỗ trợ tâm lý gia đình. Khối lượng công việc lớn, rủi ro cao, áp lực cảm xúc nặng nếu không có đãi ngộ và lộ trình nghề nghiệp rõ.
Điểm nghẽn thứ ba là thiếu sự chuẩn bị chính thức từ hệ thống đào tạo. Để có nhân lực, ung thư nhi phải hiện diện trong đào tạo y khoa - từ nhận diện sớm ở tuyến đầu đến đào tạo chuyên sâu tại trung tâm. Sinh viên y cần được học rằng trẻ em cũng có thể mắc ung thư và biết dấu hiệu cảnh báo để chuyển tuyến sớm.
Bác sĩ nội trú, bác sĩ mới ra trường cần có lộ trình tiếp cận ung thư nhi rõ ràng, không chỉ học qua trải nghiệm rời rạc. Tuyến dưới cần được chuẩn hóa xử trí sốt giảm bạch cầu, truyền máu, theo dõi duy trì và nhận diện biến chứng. Do đó, phải công nhận ung thư nhi là vấn đề hiện hữu nhưng dễ bị bỏ quên vì số ca ít hơn ung thư người lớn. Mở rộng mạng lưới điều trị từ trung tâm chuyên sâu, tuyến dưới hỗ trợ theo mô hình vệ tinh.
Đồng thời đầu tư cơ sở vật chất như phòng bệnh, giường điều trị, truyền máu, kiểm soát nhiễm trùng và chăm sóc hỗ trợ. Mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế và hỗ trợ chi phí ngoài viện phí cho gia đình khó khăn. Có chính sách đãi ngộ để thu hút và giữ chân nhân lực ung thư nhi. Đưa ung thư nhi vào đào tạo chính thức ở đại học, sau đại học và đào tạo liên tục.
Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Anh Tú - Phó Giám đốc Bệnh viện K - Chánh văn phòng Hội Ung thư Việt Nam:
Theo ghi nhận của Globocan 2024, thế giới có hơn 20 triệu ca ung thư mới mắc và gần một nửa số đó đã tử vong. Tại Việt Nam, ghi nhận mới nhất có gần 180.000 ca mới mắc.
Tỷ lệ tử vong cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển do bệnh thường được chẩn đoán ở giai đoạn trễ. Nhìn lại số liệu từ năm 2008 với hơn 100.000 ca mắc, trong vòng 16 năm qua, tỷ lệ mắc ung thư tại Việt Nam đã tăng đến 60% và số ca tử vong tăng 35%.
Dự báo đến năm 2050, số ca mắc có thể tăng lên 80% nếu không có những bước đi sớm. Ở nam giới, ung thư phổi vẫn đứng hàng đầu và hiện chủ yếu được chẩn đoán rất trễ, dẫn đến chi phí điều trị cao nhưng chủ yếu chỉ để kéo dài thời gian sống.
Các loại ung thư phổ biến tiếp theo là đại trực tràng, gan, dạ dày và thực quản. Đối với ung thư gan, kỳ vọng tỷ lệ sẽ giảm nhờ chương trình tiêm phòng virus viêm gan hơn 20 năm qua.
Ở nữ giới, ung thư vú đứng hàng đầu nhưng đã có nhiều tiến bộ. Ngay cả ở giai đoạn di căn (giai đoạn 4), nhiều bệnh nhân vẫn sống trên 5 năm hoặc được chữa khỏi. Ung thư cổ tử cung cũng có xu hướng giảm so với trước đây. Về nguyên nhân, thế giới có khoảng 40% ung thư có thể phòng ngừa qua kiểm soát rượu, thuốc lá, béo phì và vận động.
Riêng tại Việt Nam, gần 50% các ca ung thư liên quan đến nhiễm trùng, do đó việc phòng ngừa HPV, HCV, HBV và lối sống lành mạnh là rất quan trọng. Hệ thống mạng lưới phòng chống ung thư hiện nay có diện rộng nhưng chưa sâu. Nhân lực y tế đang thiếu hụt khi chỉ có 4,6 bác sĩ nội khoa ung thư và 1,3 bác sĩ xạ trị trên mỗi 1.000 người bệnh, đặc biệt thiếu bác sĩ giải phẫu bệnh.
Chi phí điều trị là gánh nặng lớn: Một bệnh nhân ung thư phổi tốn gần 170 triệu đồng. Một số loại thuốc tiên tiến hiện chưa được Bảo hiểm y tế chi trả do giá cao. Hy vọng tới đây danh mục bảo hiểm sẽ mở rộng và các loại thuốc tương tự sinh học (biosimilars) sẽ giúp giảm giá thành để nhiều bệnh nhân tiếp cận hơn.
Việc ghi nhận ung thư quốc gia hiện mới tập trung tại một số điểm như Bệnh viện K. Chúng ta cần bộ số liệu chính xác để có chính sách phù hợp. Khung kiểm soát của WHO bao gồm dự phòng, chẩn đoán sớm, sàng lọc, điều trị và theo dõi sau điều trị. Các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản tập trung vào các bệnh có test sàng lọc hiệu quả như ung thư cổ tử cung, vú, đại trực tràng và phổi. Tại Việt Nam, định hướng là đi từng bước, tập trung vào ung thư vú và cổ tử cung trước, sau đó là đại trực tràng và phổi.
Chiến lược trong thập kỷ tới đề xuất 5 sự chuyển dịch:
Giám sát quốc gia: Ghi nhận đầy đủ, liên thông dữ liệu để phản hồi chính sách.
Dự phòng ung thư theo vòng đời và nguy cơ: Kiểm soát các yếu tố sinh ung thư; quản lý nhóm nguy cơ cao, di truyền và tổn thương tiền ung thư.
Sàng lọc có tổ chức: Tích hợp vào khám sức khỏe toàn dân; quản lý dân số, từ mời sàng lọc đến chẩn đoán và điều trị.
Chăm sóc ung thư liên tục, công bằng: Chuẩn hóa, phân tuyến, điều trị đa mô thức, chăm sóc giảm nhẹ và theo dõi sau điều trị.
Hệ sinh thái ung thư số quốc gia: Chuẩn hóa dữ liệu và ứng dụng AI để nâng cao dự phòng, phát hiện sớm, chẩn đoán và chất lượng điều trị.
Phòng, chống ung thư không thể chỉ là những chiến dịch: Việt Nam cần một chương trình phòng, chống ung thư quốc gia có tổ chức, dữ liệu dẫn đường để đúng người được can thiệp, phát hiện sớm hơn và điều trị kịp thời hơn.
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức và nhà báo Phùng Công Sưởng - Tổng Biên tập Báo Tiền Phong - trao hoa và kỷ niệm chương cho các đơn vị tài trợ:
- Ông Douglas Kuo - Phó Chủ Tịch kiêm Tổng Giám đốc Abbott Việt Nam, Úc và New Zealand
- Bà Tạ Thị Lương - Sale Account Manager - Công ty thiết bị y tế LD
- Dược sĩ Châu Thanh Tú, Dược sĩ trưởng Hội đồng chuyên môn dược, Hệ thống chuỗi Nhà thuốc và Tiêm chủng Long Châu
- Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Duy Sinh - Giám Đốc Y Khoa - Gene Solutions
- Đại diện Bệnh viện Chợ Rẫy
- Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Phúc Minh Tuệ - Trưởng Khoa Ung bướu Bệnh viện Nhân dân 115
- Bà Hoàng Thị Trúc Quỳnh - Trưởng phòng Đối Ngoại- Công ty Amway Việt Nam
- Bà Ngô Thị Thu Thủy - Tổng giám đốc Công ty Fujiwa Việt Nam
- Thạc sĩ Trần Thúy Trâm Quyên - Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Tri Thức - Thứ trưởng Bộ Y tế - phát biểu chỉ đạo tại hội thảo:
Về tầm quan trọng của công tác phòng, chống ung thư, chúng ta đã được nghe rất đầy đủ trong phần phát biểu trước. Tôi đặc biệt ấn tượng với chủ đề của hội thảo.
Theo tôi, đây là chủ đề rất hay vì bao quát đầy đủ định hướng mà không chỉ Việt Nam mà cả thế giới đang hướng tới. Hội thảo như sợi chỉ xuyên suốt, kết nối tất cả mắt xích trong công tác phòng, chống ung thư, từ sàng lọc, phát hiện sớm, truyền thông, dự phòng, điều trị, dinh dưỡng, phục hồi chức năng đến chăm sóc giảm nhẹ. Đó đều là những nội dung hết sức quan trọng.
Ở góc độ quản lý nhà nước, tôi xin chia sẻ một số ý kiến. Trước hết, công tác phòng, chống ung thư luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế.
Điều đó được thể hiện qua nhiều chiến lược, chương trình đã và đang được triển khai trên phạm vi cả nước. Trong thời gian qua, chúng ta có hai chính sách rất quan trọng.
Thứ nhất là Luật Phòng bệnh đã được ban hành. Thứ hai là Nghị quyết số 72 của Bộ Chính trị. Hai chính sách này đều hướng đến mục tiêu chung là chuyển mạnh từ tư duy điều trị sang tư duy phòng bệnh, không chỉ chờ đến khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn mà phải tăng cường truyền thông, dự phòng và phát hiện sớm.
Đây là chiến lược quan trọng để chúng ta tiến xa hơn trong công tác phòng, chống ung thư. Tín hiệu đáng mừng nữa là trình độ điều trị ung thư chuyên sâu của Việt Nam đã tiệm cận với nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Đội ngũ thầy thuốc của chúng ta đã làm chủ nhiều kỹ thuật hiện đại, đồng thời hệ thống trang thiết bị phục vụ điều trị ung thư cũng ngày càng được đầu tư, phát triển.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm. Trước hết là độ bao phủ của các dịch vụ điều trị ung thư chuyên sâu chưa đồng đều giữa các vùng, miền.
Người dân ở nhiều địa phương vẫn chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ với các kỹ thuật điều trị hiện đại. Bên cạnh đó, sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị trong công tác phòng, chống ung thư vẫn cần tiếp tục được tăng cường để tạo nên sức mạnh tổng thể.
Tôi trân trọng cảm ơn Báo Tiền Phong, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, Hội Ung thư Việt Nam cùng các chuyên gia, nhà khoa học đã tổ chức hội thảo ý nghĩa. Tôi tin rằng những sáng kiến, khuyến nghị và ý kiến chuyên môn được chia sẻ hôm nay sẽ là cơ sở quan trọng để Bộ Y tế nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế, chính sách quản lý, qua đó thúc đẩy công tác phòng, chống ung thư phát triển toàn diện hơn trong thời gian tới.
Thay mặt lãnh đạo Bộ Y tế, tôi xin kính chúc quý thầy cô, các nhà khoa học và toàn thể quý đại biểu sức khỏe, hạnh phúc, chúc hội thảo thành công tốt đẹp.
Nhà báo Phùng Công Sưởng - Tổng Biên tập Báo Tiền Phong - phát biểu khai mạc:
Ung thư không còn là câu chuyện riêng của ngành y tế hay của từng gia đình có người mắc bệnh. Nó đã trở thành một vấn đề lớn về y tế, là gánh nặng kinh tế - xã hội và là mối quan tâm của mọi gia đình.
Theo số liệu của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư quốc tế, mỗi năm Việt Nam ghi nhận 180.480 ca mắc ung thư mới, hơn 120.000 người tử vong vì căn bệnh này và có trên 409.000 người đang sống chung với ung thư trong vòng 5 năm sau chẩn đoán.
Những con số ấy phản ánh một thực tế đáng suy ngẫm: ung thư đang trở thành một trong những gánh nặng bệnh tật lớn nhất của nước ta. Đáng lưu ý hơn, xu hướng trẻ hóa ở một số loại ung thư như ung thư vú và ung thư đại trực tràng cũng đang đặt ra những thách thức mới đối với hệ thống y tế và công tác phòng bệnh.
Thực tế cho thấy, bên cạnh yếu tố già hóa dân số, sự gia tăng của ung thư còn chịu tác động từ nhiều nguyên nhân như: hút thuốc lá, sử dụng rượu bia, ô nhiễm môi trường, chế độ dinh dưỡng thiếu lành mạnh, ít vận động, béo phì, nhiễm virus viêm gan B, C, HPV và đặc biệt là thói quen chủ quan, chưa coi trọng tầm soát định kỳ.
Điều đáng tiếc là không ít bệnh nhân chỉ đến bệnh viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, làm giảm đáng kể cơ hội điều trị thành công và làm gia tăng chi phí cho gia đình cũng như xã hội. Tuy nhiên, nếu nhìn ở một góc độ khác, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng khi y học thế giới đang chứng kiến những bước tiến vượt bậc trong chẩn đoán sớm, sinh học phân tử, giải trình tự gen, miễn dịch trị liệu, điều trị nhắm trúng đích, trí tuệ nhân tạo và y học chính xác.
Những tiến bộ này đang từng bước thay đổi quan niệm rằng ung thư đồng nghĩa với án tử. Với nhiều loại ung thư, nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ, người bệnh có thể sống khỏe mạnh nhiều năm, thậm chí khỏi bệnh. Đó cũng chính là lý do chúng tôi lựa chọn chủ đề "Phòng chống ung thư - Cần bước đột phá toàn diện".
Toàn diện có nghĩa là kết nối chặt chẽ giữa dự phòng, chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, chăm sóc giảm nhẹ và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Quan trọng hơn, đó còn là sự phối hợp giữa Nhà nước, ngành y tế, các cơ sở nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và chính mỗi người dân. Cuộc chiến chống ung thư không thể thành công nếu chỉ đặt lên vai các bác sĩ. Đây phải là trách nhiệm chung của toàn xã hội.
Là một cơ quan báo chí, Báo Tiền Phong nhận thức sâu sắc rằng truyền thông không chỉ có nhiệm vụ phản ánh thực trạng, mà còn góp phần thay đổi nhận thức và thúc đẩy hành động. Trong nhiều năm qua, chúng tôi luôn đồng hành với ngành y tế thông qua các diễn đàn khoa học, các chương trình truyền thông về sức khỏe, hiến máu tình nguyện, phòng chống bệnh không lây nhiễm và nhiều hoạt động cộng đồng khác.
Hôm nay, chúng tôi mong muốn hội thảo sẽ tiếp tục là một diễn đàn cởi mở, nơi các nhà quản lý, chuyên gia, bác sĩ, nhà khoa học và doanh nghiệp cùng chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn, những tiến bộ mới của y học và những chính sách, sáng kiến có khả năng tạo nên bước chuyển trong công tác phòng, chống ung thư tại Việt Nam.
Chúng tôi cũng kỳ vọng rằng sau hội thảo, sẽ có thêm nhiều khuyến nghị chính sách thiết thực, nhiều mô hình hợp tác giữa bệnh viện, trường đại học, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ hơn thông điệp về tầm soát sớm, lối sống lành mạnh và bình đẳng trong tiếp cận các thành tựu y học hiện đại.
Mỗi bệnh nhân ung thư không chỉ là một hồ sơ bệnh án, mà là một con người với những ước mơ, gia đình và khát vọng được sống. Mỗi ca bệnh được phát hiện sớm không chỉ cứu một mạng người, mà còn giữ gìn hạnh phúc của một gia đình và giảm bớt gánh nặng cho xã hội.
Với tinh thần đó, tôi tin tưởng rằng, bằng trí tuệ, trách nhiệm và sự chung tay của các nhà quản lý, đội ngũ chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan báo chí và toàn xã hội, chúng ta sẽ từng bước tạo nên những đột phá thực sự trong cuộc chiến chống ung thư, vì một Việt Nam khỏe mạnh hơn, nhân văn hơn và phát triển bền vững hơn.
Về phía lãnh đạo bộ ngành và các chuyên gia, đại biểu:
- PGS.TS.BS Nguyễn Tri Thức - Thứ trưởng Bộ Y tế
- Thạc sĩ Nguyễn Trí Dũng - Vụ phó Vụ Bảo hiểm Y tế - Bộ Y tế
- Thầy thuốc Nhân dân - TS-BS CKII Phạm Xuân Dũng - Phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam - Chủ tịch Hội Ung thư TPHCM
- PGS.TS.BS Đỗ Anh Tú - Phó Giám đốc Bệnh viện K, Chánh văn phòng Hội ung thư VN
- TS.BS Lưu Ngân Tâm - Trưởng khoa Dinh dưỡng - Bệnh viện Chợ Rẫy- Chủ tịch Hội nuôi dưỡng đường tĩnh mạch và đường tiêu hoá Việt Nam
- PGS-TS Nguyễn Thị Thu Thuỷ - Phó Hiệu trưởng ĐH Quốc tế Hồng Bàng
- PGS-TS Hà Văn Thiệu - Trưởng Khoa Y - Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
- BSCKII Nguyễn Đình Văn - Trưởng Khoa Ung bướu Huyết học - Bệnh viện Nhi đồng 2
- Nhà báo Lê Xuân Sơn - nguyên Tổng Biên tập Báo Tiền Phong
Về phía lãnh đạo Sở Y tế và bệnh viện các tỉnh, thành khu vực phía Nam:
- BS CK 2 Chung Tấn Thịnh - Phó giám đốc Sở Y tế An Giang
- Đại diện Phòng Nghiệp vụ y - Sở Y tế Cần Thơ
- PGS.TS.BS Phạm Ngọc Thạch - Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng 2 TPHCM
- PGS.TS Lê Khắc Cường - Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng
- TS.BS Ngô Viết Thịnh - Phó giám đốc Chuyên môn BV ĐH Quốc tế Hồng Bàng
- TS.BS Lâm Đức Hoàng - Trưởng Khoa Xạ trị - BV Ung bướu TPHCM
- Đại tá, TS.BS Nguyễn Thành Công - Phó Giám Đốc Viện Ung bướu kiêm Trưởng Khoa Xạ Trị BV Quân y 175
- PGS.TS.BS Võ Duy Long - Phó trưởng khoa Ngoại tiêu hoá BV ĐHYD TPHCM
- TS.BS Phạm Văn Tác - Nguyên Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ - Bộ Y tế
- Ths.Bs Nguyễn Phúc Minh Tuệ - Trưởng Khoa Ung bướu Bệnh viện Nhân dân 115
- PGS.TS.BS Trần Xuân Vĩnh - Đại học Y Dược TPHCM
- Bác sĩ Nguyễn Hồng Trung- Giám đốc Y khoa, Bệnh viện quốc tế Mỹ
- Đại diện Phòng khám Đa khoa Hoàng Long – Cơ sở TPHCM
- Đại diện Hệ thống Trung tâm Xét nghiệm Hòa Hảo – Medic
Về phía đơn vị tổ chức cùng đơn vị phối hợp
- Nhà báo Phùng Công Sưởng - Tổng Biên tập báo Tiền Phong - Trưởng Ban Tổ chức
- GS.TS.BS Phạm Văn Lình - Hiệu trưởng kiêm Giám đốc Bệnh viện Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng
- Nhà báo Lý Thành Tâm - Ủy viên Ban Biên tập, Trưởng Văn phòng đại diện tại TPHCM báo Tiền Phong - Phó trưởng Ban tổ chức
- Thạc sĩ Trần Thúy Trâm Quyên - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, thành viên Ban tổ chức.
- Nhà báo Trần Ngọc Lâm - Phó Trưởng Văn phòng Báo Tiền Phong tại TPHCM- thành viên Ban tổ chức
Cùng với đó, chương trình còn có sự tham gia của đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành, các sở y tế, các bệnh viện tuyến trung ương và địa phương, các hiệp hội chuyên ngành, các doanh nghiệp y tế.
Chương trình mở đầu bằng tiết mục piano đầy cảm xúc của nam sinh Lý Đại Phước (21 tuổi), đang điều trị bệnh ung thư cơ - một dạng ung thư hiếm gặp không chỉ tại Việt Nam mà còn trên thế giới.
Cả hội trường Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng im phăng phắc, nghe từng nốt piano. Dù mắc bệnh hiểm nghèo khi tuổi đời còn rất trẻ, buộc phải bỏ dở việc học đại học để chống chọi với bệnh tật song điều đó không làm em nản chí. Tiết mục biểu diễn piano ngày hôm nay là cho chính em tự học trong thời gian điều trị bệnh.
Sau khi những giai điệu khép lại, MC Mỹ Vân bước lên sân khấu, chia sẻ câu chuyện đặc biệt của chàng trai trẻ.
Đại Phước phát hiện mắc bệnh khi tuổi đời còn rất trẻ, phải tạm gác việc học đại học để bước vào hành trình điều trị đầy gian nan. Tuy nhiên, nghịch cảnh không thể làm em chùn bước. Trong suốt thời gian điều trị, Đại Phước đã tự học đàn piano và mang chính thành quả ấy đến biểu diễn trước đông đảo đại biểu, khách mời như một thông điệp về nghị lực, niềm tin và khát vọng sống.
Để ghi nhận tinh thần lạc quan của nam sinh, Thầy thuốc ưu tú, TS.BS.CKII Phạm Xuân Dũng - Phó Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, Chủ tịch Hội Ung thư TPHCM đã lên sân khấu trao tặng Đại Phước bó hoa tươi thắm, thay lời động viên và chúc em tiếp tục vững vàng trên hành trình chiến đấu với bệnh tật.
Khoảnh khắc cả khán phòng đồng loạt dành những tràng pháo tay dài cho Đại Phước đã tạo nên bầu không khí xúc động, mở đầu chương trình bằng câu chuyện đẹp về nghị lực vượt lên số phận. Hình ảnh chàng trai trẻ say sưa bên phím đàn không chỉ truyền cảm hứng cho những bệnh nhân ung thư mà còn lan tỏa thông điệp tích cực về niềm tin, hy vọng và sức mạnh của ý chí.
Ung thư đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với hệ thống y tế Việt Nam khi số ca mắc mới và tử vong ngày càng gia tăng. Dù nhiều kỹ thuật hiện đại như phẫu thuật robot, xạ trị chính xác, thuốc nhắm trúng đích hay liệu pháp miễn dịch đã được triển khai, không phải người bệnh nào cũng có cơ hội tiếp cận.
Thực trạng phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, quá tải bệnh viện tuyến cuối, chênh lệch năng lực điều trị giữa các tuyến, gánh nặng chi phí và những hạn chế về nhân lực, chính sách bảo hiểm y tế vẫn là những "điểm nghẽn" cần sớm tháo gỡ.
Xuất phát từ thực tiễn này, Báo Tiền Phong phối hợp Bộ Y tế và Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng tổ chức hội thảo "Phòng chống ung thư: Cần bước đột phá toàn diện".
Hội thảo quy tụ các nhà quản lý, chuyên gia đầu ngành và đại diện nhiều bệnh viện lớn nhằm phân tích thực trạng ung thư tại Việt Nam, nhận diện những điểm nghẽn trong phòng ngừa, phát hiện sớm, điều trị và chăm sóc người bệnh, đồng thời đề xuất các giải pháp về chính sách, tài chính, đào tạo nhân lực, ứng dụng công nghệ và mở rộng khả năng tiếp cận các phương pháp điều trị tiên tiến.