Ngày 23/1, tại Đà Nẵng, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức tổng kết Dự án “Thúc đẩy thực hiện quản lý rừng bền vững và đa dạng sinh học ở Việt Nam (BIODEV2030)”.
Trong bối cảnh suy thoái đa dạng sinh học đang diễn ra với tốc độ chưa từng có, BIODEV2030 xây dựng mô hình nhằm giảm áp lực từ hoạt động sản xuất, kinh doanh lên đa dạng sinh học, đồng thời, chứng minh rằng bảo tồn không đối lập với phát triển mà có thể trở thành lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế.
Thủy sản và lâm nghiệp là hai ngành kinh tế chịu sức ép ngày càng gia tăng từ các yêu cầu mới của thị trường quốc tế như: quy định chống mất rừng của Liên minh Châu Âu hay các tiêu chuẩn bền vững toàn cầu.
Trong một năm qua, dự án đã hỗ trợ xây dựng mô hình liên kết giữa hộ dân với doanh nghiệp, cũng như giữa các hộ dân trong hợp tác xã, qua đó thúc đẩy chuyển đổi từ phương thức sản xuất truyền thống sang sản xuất có trách nhiệm hơn.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, dự án đã hỗ trợ xây dựng kế hoạch quản lý rừng bền vững giai đoạn 2026 - 2030 cho Hợp tác xã Hiệp Thuận (TP. Đà Nẵng) - đơn vị hiện quản lý gần 1.500 ha rừng trồng keo với sự tham gia của 260 hộ dân.
Kế hoạch này tạo nền tảng để mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ FSC lên 2.500 ha vào năm 2028 và hướng tới 3.000 ha vào năm 2030, qua đó, đảm bảo nguồn cung gỗ ổn định và nâng cao giá trị chuỗi sản xuất lâm nghiệp.
Không chỉ dừng lại ở quản lý rừng bền vững, dự án còn thúc đẩy hoạt động phục hồi đa dạng sinh học trong khu vực thông qua hướng dẫn và hỗ trợ các hộ dân trồng xen cây bản địa trong các rừng keo đạt chứng nhận đặc biệt tại các khu vực trọng yếu như hành lang sông suối.
Theo ông Nguyễn Hữu Dương, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Hiệp Thuận, từ khi tham gia dự án, người dân nhận được nhiều lợi ích thiết thực về kiến thức, kỹ năng và phương thức quản trị, đặc biệt trong quản lý rừng theo dữ liệu, bản đồ, giám sát đa dạng sinh học, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ yêu cầu thị trường.
“Đây là nền tảng quan trọng để chúng tôi tiếp tục duy trì và phát triển mô hình quản lý rừng bền vững, có chứng chỉ FSC, đem lại giá trị kinh tế cao và gắn với bảo tồn đa dạng sinh học trong thời gian tới”, ông Dương nói.
Trong lĩnh vực thủy sản, mô hình nuôi tôm rừng bền vững đạt chứng nhận quốc tế ASC được triển khai tại tỉnh Cà Mau thông qua liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp xã hội Minh Phú và các hộ nuôi tôm rừng.
Người dân được tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ con giống đạt chuẩn, bao tiêu sản phẩm với giá cao hơn thị trường và tiếp cận chi trả dịch vụ môi trường rừng, qua đó, vừa bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn, vừa nâng cao sinh kế và khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu.
Nhằm tạo ra tác động lâu dài, BIODEV2030 cũng có những hoạt động liên quan tới chính sách ngành, công tác bảo tồn đa dạng sinh học như: tổ chức các đối thoại khuyến nghị ở cả cấp T.Ư và địa phương; cung cấp thông tin đầu vào về cấp mã số rừng trồng sản xuất; góp phần thực hiện mục tiêu đạt 100% chứng nhận cho tôm rừng của tỉnh Cà Mau; thúc đẩy liên kết doanh nghiệp – người dân...
Theo ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, mặc dù thời gian Dự án BIODEV2030 triển khai không dài, nguồn lực còn khiêm tốn, nhưng dự án đã cho thấy một cách tiếp cận đúng đắn: lấy chính sách làm trụ cột, lấy doanh nghiệp và cộng đồng làm trung tâm, lấy bảo tồn đa dạng sinh học làm nền tảng cho phát triển bền vững.
"Những kết quả đạt được là cơ sở quan trọng để tiếp tục nhân rộng, hoàn thiện và tích hợp các chương trình dự án lớn hơn trong thời gian tới”, ông Diện nói.
BIODEV2030 là một sáng kiến toàn cầu do Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tài trợ và Expertise France điều phối, được triển khai thí điểm tại 16 quốc gia. Việt Nam là quốc gia châu Á duy nhất tham gia sáng kiến này.
Dự án được thực hiện bởi Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF Việt Nam) phối hợp với Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tại TP. Đà Nẵng và tỉnh Cà Mau