Hiệp định thực thi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học tại vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia (gọi tắt là “Hiệp ước Biển cả”) chính thức có hiệu lực vào ngày 17/1/2026. Nhân dịp này, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ đã có cuộc trả lời phỏng vấn báo chí.
Ngày 17/1/2026, Hiệp ước Biển cả sẽ chính thức có hiệu lực. Xin Thứ trưởng chia sẻ về ý nghĩa của việc này đối với nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong quản lý và bảo vệ đại dương?
Thứ trưởng Nguyễn Minh Vũ: Hiệp ước Biển cả là khuôn khổ pháp lý toàn diện đầu tiên nhằm điều chỉnh các hoạt động liên quan đến đa dạng sinh học biển tại các khu vực ngoài quyền tài phán quốc gia - không gian chiếm khoảng 61% diện tích đại dương trên thế giới và 43% bề mặt Trái đất.
Hiệp định mang ý nghĩa đặc biệt khi lần đầu tiên khẳng định việc áp dụng nguyên tắc “di sản chung của nhân loại” đối với tài nguyên đa dạng sinh học tại khu vực ngoài vùng tài phán quốc gia. Qua đó, Hiệp định tạo ra cơ chế chia sẻ công bằng lợi ích giữa các quốc gia; đồng thời tạo điều kiện để các quốc gia đang phát triển tham gia thực chất hơn vào các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển. Điều này cũng giúp củng cố niềm tin và sự tham gia tích cực của các nước đang phát triển vào các nỗ lực bảo vệ đại dương toàn cầu trong bối cảnh đa dạng sinh học đang suy giảm nghiêm trọng bởi tác động của con người.
Việc Hiệp ước biển cả được thông qua và có hiệu lực không chỉ thể hiện nguyện vọng và quyết tâm chung của cộng đồng quốc tế trong việc tăng cường quản lý và bảo vệ đại dương, mà còn khẳng định vai trò quan trọng của các cơ chế đa phương trong việc thúc đẩy hợp tác để giải quyết các vấn đề toàn cầu trên cơ sở luật pháp quốc tế, củng cố trật tự pháp lý trên biển với nền tảng là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Xin Thứ trưởng chia sẻ về những vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới để Hiệp định được triển khai hiệu quả và bảo đảm sự hài hòa, nhất quán với UNCLOS?
Hiệp định có hiệu lực tạo cơ sở cho việc hợp tác để bảo tồn và khai thác tài nguyên đa dạng sinh học ngoài quyền tài phán quốc gia. Tuy nhiên, để việc hợp tác này thực sự đem lại lợi ích cho các quốc gia, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được trao đổi và giải quyết.
Một là, các quốc gia thành viên Hiệp định cần tiếp tục đàm phán để thống nhất quy định vận hành các cơ chế của Hiệp định, bao gồm quy tắc thủ tục của Hội nghị các quốc gia thành viên, việc thành lập các cơ quan chuyên môn và Ban Thư ký. Đây là cơ sở để triển khai các nhiệm vụ phức tạp hơn như thiết lập khu vực bảo tồn biển, phương thức chia sẻ lợi ích từ nguồn gen biển ở vùng biển quốc tế.
Hai là, việc quản lý “di sản chung của nhân loại” đòi hỏi Hiệp định là khuôn khổ pháp lý toàn cầu. Hiện Hiệp định đã có 145 quốc gia ký kết và 81 quốc gia thành viên. Tuy nhiên, việc thu hút thêm sự tham gia của các nước, đặc biệt là các nước phát triển và các nước có nhiều hoạt động tại vùng biển quốc tế vẫn là yêu cầu quan trọng để các quy định về bảo tồn và xây dựng năng lực, chuyển giao công nghệ có hiệu quả thực chất.
Ba là, đa số các nước đang phát triển đều thiếu năng lực khoa học, kỹ thuật và nguồn lực tài chính để tham gia thực chất vào các hoạt động mà Hiệp định điều chỉnh, như đánh giá tác động môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển hay tiếp cận và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen biển. Do đó, việc tăng cường hỗ trợ trực tiếp, xây dựng năng lực và triển khai các mô hình tài chính mới là hết sức cần thiết.
Bốn là, việc thực hiện Hiệp định cần phải bảo đảm tuân thủ UNCLOS, cũng như hài hòa với các cơ chế quản lý đã có ở cùng khu vực, bao gồm Cơ quan quyền lực đáy đại dương - quản lý tài nguyên phi sinh vật ở đáy biển quốc tế và các tổ chức nghề cá khu vực. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ để tránh chồng chéo và nâng cao hiệu quả quản trị đại dương.
Xin Thứ trưởng cho biết Hiệp định có hiệu lực sẽ mang lại những cơ hội cụ thể nào cho Việt Nam trong bảo tồn đa dạng sinh học biển, nghiên cứu khoa học và tiếp cận nguồn lực, công nghệ từ quốc tế? Và Việt Nam sẽ ưu tiên những bước đi nào để vừa thực hiện hiệu quả Hiệp định?
Việc Hiệp định có hiệu lực mở ra những cơ hội và không gian hợp tác to lớn và chưa từng có cho Việt Nam trong bảo tồn đa dạng sinh học biển và phát triển bền vững kinh tế biển. Với sự chỉ đạo từ rất sớm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ, Việt Nam đã ký Hiệp định ngay từ ngày đầu mở ký, hoàn thành thủ tục phê duyệt và nộp lưu chiểu văn kiện phê duyệt ngày 9/6/2025.
Việc trở thành một trong những quốc gia thành viên ngay từ sớm đã thể hiện cam kết mạnh mẽ và trách nhiệm của Việt Nam đối với bảo vệ biển và đại dương, bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển.
Đối với Việt Nam, Hiệp định tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường hợp tác quốc tế, tiếp cận tri thức, dữ liệu và công nghệ tiên tiến, qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học biển, quản lý và bảo vệ môi trường biển. Đây cũng là cơ hội quan trọng để các nhà khoa học Việt Nam tham gia thực chất vào các hoạt động nghiên cứu, tiếp cận và chia sẻ lợi ích từ nguồn gien biển ở biển quốc tế và đáy biển sâu, góp phần thúc đẩy mô hình kinh tế biển hiện đại, dựa trên khoa học và đổi mới sáng tạo.
Với tư cách là quốc gia thành viên của Hiệp định, Việt Nam sẽ đóng góp một cách chủ động, tích cực và có trách nhiệm vào triển khai hiệu quả Hiệp định với việc tham gia sâu vào các cơ chế liên quan đến cả bốn trụ cột gồm tiếp cận và chia sẻ công bằng lợi ích từ nguồn gen biển; thiết lập và quản lý các khu bảo tồn biển; đánh giá tác động môi trường đối với các hoạt động ở vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia và xây dựng năng lực, chuyển giao công nghệ biển.
Đồng thời, là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng sẽ phản ánh tiếng nói và lợi ích chính đáng của các quốc gia có năng lực hạn chế cũng như các quốc gia chịu ảnh hưởng lớn từ biến đổi khí hậu, bảo đảm phù hợp với UNCLOS.
Việt Nam sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, tăng cường phối hợp liên ngành, huy động sự tham gia của giới khoa học, doanh nghiệp và người dân, bảo đảm việc thực hiện Hiệp định hiệu quả, thực chất, phục vụ thiết thực cho việc phát triển bền vững kinh tế biển của Việt Nam và quốc tế như tinh thần của Nghị quyết 36-NQ/TW (2018) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Cảm ơn Thứ trưởng.