Trong chương trình chiếu phim chào mừng Đại hội XIV của Đảng, những tác phẩm kinh điển của điện ảnh cách mạng Việt Nam như Sao tháng Tám, Đến hẹn lại lên, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm trở lại màn ảnh rộng, hơn nửa số người tìm đến rạp là những khán giả trẻ vốn sinh ra rất lâu sau thời điểm các bộ phim ấy được sản xuất.
Một bộ phim được bảo quản tốt trong kho lưu trữ vẫn là tài sản văn hóa. Nhưng khi nó được đưa trở lại rạp, được một sinh viên 20 tuổi chủ động mua vé hoặc dành thời gian đến xem, được nhìn bằng con mắt của một thế hệ mới, giá trị ấy mới tiếp tục tham gia vào đời sống đương đại.
Điều tương tự đang diễn ra trên sân khấu. Khát vọng mùa Xuân đưa gần 150 nghệ sĩ, nhạc công của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam, Dàn nhạc Giao hưởng Mặt Trời và Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam lên sân khấu, kết nối nhạc giao hưởng với đàn bầu, nghệ sĩ quốc tế với nghệ sĩ Việt Nam.
Cảm xúc Long Thành của Nhà hát Múa rối Việt Nam tìm cách kết hợp múa rối truyền thống với sáng tạo đương đại. Chương trình Bác Hồ, Một tình yêu bao la lựa chọn những câu chuyện đời thường để tiếp cận công chúng. Các hình thức rất khác nhau, nhưng có một điểm gặp nhau: nghệ thuật đang tìm cách rút ngắn khoảng cách với người xem.
Đây là một thay đổi đáng kể bởi trong một thời gian dài, đánh giá hoạt động văn hóa đôi khi dễ rơi vào logic của phía cung: Xây được bao nhiêu công trình, tổ chức bao nhiêu chương trình, có bao nhiêu nghệ sĩ tham gia, kinh phí bao nhiêu, quy mô bao nhiêu người.
Nhưng nếu nhìn từ chiều kích của công chúng, một bộ chỉ số khác lập tức xuất hiện. Nó liên quan đến việc có bao nhiêu người được tiếp cận, họ thuộc nhóm nào, tần suất tham gia ra sao, một người có quay trở lại lần thứ hai, thứ ba hay không, trẻ em và thanh thiếu niên có trở thành công chúng thường xuyên hay chỉ xuất hiện trong những đợt hoạt động phong trào?
Câu hỏi này càng đáng đặt ra khi Việt Nam đang bước vào giai đoạn đầu tư mạnh hơn cho văn hóa. Nghị quyết 80-NQ/TW xác định phát triển văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững.
Một trong những mục tiêu đáng chú ý là bảo đảm 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả và thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa; đồng thời bảo đảm quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hóa, tiếp cận bình đẳng, thu hẹp chênh lệch vùng miền và hỗ trợ các nhóm yếu thế.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội - giải thích, sở dĩ phải nhấn vào hai chữ “thường xuyên” bởi lẽ, một học sinh được đưa đến bảo tàng một lần trong năm chưa chắc đã hình thành năng lực thẩm mỹ. Một buổi biểu diễn nghệ thuật trong trường học chưa đủ tạo nên một thế hệ công chúng. Một chuyến tham quan di sản có thể tạo ấn tượng, nhưng giáo dục nghệ thuật chỉ thực sự tạo ra thay đổi khi trở thành một phần đều đặn của quá trình trưởng thành.
NSND Lệ Ngọc cũng chỉ ra đúng điểm này khi cho rằng nghệ thuật muốn sống bền phải có công chúng, còn công chúng cần được nuôi dưỡng bằng thói quen thưởng thức, kiến thức thẩm mỹ và khả năng hiểu giá trị văn hóa từ trường học. Theo bà, khi nền tảng công chúng đủ dày, nghệ sĩ cũng bớt bị cuốn vào những hiệu ứng ngắn hạn và kiểu sáng tạo “gây sốc để được chú ý”.
Như vậy, giáo dục nghệ thuật không chỉ đào tạo người biết thưởng thức nghệ thuật. Xa hơn, nó còn tham gia kiến tạo thị trường văn hóa tương lai.
Một đứa trẻ thường xuyên đọc sách, xem kịch, nghe nhạc, đến bảo tàng, được thử vẽ, diễn kịch, làm phim hay chơi một nhạc cụ hôm nay có thể không trở thành nghệ sĩ. Nhưng 10 hay 20 năm sau, đó có thể là một người sẵn sàng mua sách, mua vé, trả tiền cho sản phẩm sáng tạo và đủ khả năng phân biệt giữa một tác phẩm có chất lượng với sản phẩm chạy theo kích thích tức thời.
Nghị quyết 80 đặt quyền “thụ hưởng và sáng tạo văn hóa” cạnh nhau không phải ngẫu nhiên.
Nếu chỉ nhìn văn hóa qua doanh thu phòng vé, số bản sách bán ra hay doanh số của ngành giải trí, con người chủ yếu xuất hiện với tư cách khách hàng. Nhưng một hệ sinh thái văn hóa mạnh cần những người tham gia chủ động: người viết, người vẽ, người chơi nhạc, làm phim, chụp ảnh, diễn kịch, làm thủ công, tổ chức câu lạc bộ, lưu giữ ký ức địa phương hay sáng tạo nội dung số.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: “Quyền thụ hưởng giúp người dân tiếp cận các giá trị văn hóa, còn quyền sáng tạo quyết định họ có được tham gia làm ra những giá trị mới hay không. Nếu người dân chỉ đến xem, nghe và mua sản phẩm, chúng ta mới có một thị trường văn hóa. Khi họ có không gian để viết, vẽ, biểu diễn, kể câu chuyện của cộng đồng mình và đưa sáng kiến vào đời sống, lúc đó mới hình thành một hệ sinh thái văn hóa thực sự. Vì thế, hiệu quả của thiết chế không nên chỉ đo bằng lượt người đến, mà còn phải đo bằng số người được tạo cơ hội tham gia và sáng tạo”.
Thước đo của một trung tâm văn hóa như vậy cũng bao gồm cả việc có bao nhiêu người dân có thể bước lên sân khấu. Một thư viện tốt không chỉ cho mượn sách mà còn có thể trở thành nơi tổ chức câu lạc bộ đọc, viết và trao đổi tri thức. Một bảo tàng hiện đại không chỉ trưng bày hiện vật mà có thể tạo ra các chương trình để học sinh khám phá, đặt câu hỏi, thực hành và kể lại di sản bằng ngôn ngữ của thế hệ mình.
Hà Nội vừa đưa vào vận hành thí điểm mô hình Nhà văn hóa - Khu thể thao đa chức năng tại thôn Vạn Điểm, xã Phú Xuyên, mở đầu cho kế hoạch đổi mới hoạt động thiết chế văn hóa tại 126 xã, phường.
Tại đây, nghề mộc truyền thống được đưa vào không gian sinh hoạt cộng đồng như một phần của câu chuyện địa phương. Nhà văn hóa hiện có hơn 10 loại hình câu lạc bộ với trên 350 hội viên sinh hoạt thường xuyên, từ võ thuật, dân vũ, dưỡng sinh đến phòng đọc sách, phòng cộng đồng số và các không gian chức năng khác.
TS. Nguyễn Hà An (Hiệp hội phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam) cho rằng điểm khác biệt của mô hình Vạn Điểm là sự dịch chuyển từ đầu tư cơ sở vật chất sang đầu tư cho nội dung.
Theo bà, phần xây có thể đã hoàn thành nhưng phần sống mới quyết định giá trị lâu dài của một nhà văn hóa. Khi nghề truyền thống, lịch sử và ký ức quê hương hiện diện ngay trong không gian sinh hoạt hằng ngày, người dân dễ nhìn thấy mình trong thiết chế ấy và tham gia một cách tự nguyện hơn.
Đây cũng là bài toán đặt ra khi Hà Nội muốn nhân rộng mô hình trên toàn thành phố. Bởi 126 xã, phường không thể cùng kể một câu chuyện. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Nhạn - Viện Nghiên cứu phát triển văn hóa và ngôn ngữ - cho rằng “bản sắc không thể được sản xuất theo dây chuyền”.
Vạn Điểm có nghề mộc, Bát Tràng có gốm, Chàng Sơn có nghề quạt, Phú Vinh có mây tre đan, Quảng Phú Cầu có nghề hương; những khu phố cũ lại sở hữu ký ức đô thị, phố nghề và lịch sử cư dân riêng. Điều cần nhân rộng, vì thế không phải một mẫu nhà văn hóa giống nhau mà là phương pháp tìm ra “chất liệu văn hóa” đặc trưng của từng địa bàn.
Nếu cách tiếp cận này được duy trì, nhà văn hóa có thể vượt khỏi vai trò một địa điểm tổ chức hội họp hay hoạt động phong trào. Nó có thể trở thành nơi người dân đọc sách, tập luyện, học nghề, biểu diễn, kể lại ký ức địa phương và trực tiếp tham gia sáng tạo.
Đó cũng là lúc quyền thụ hưởng văn hóa gắn với quyền tham gia văn hóa. Một thiết chế có thể được xem là hoạt động tốt không phải khi lịch hoạt động kín, mà khi người dân coi đó là không gian của chính mình.
Khi công chúng có khả năng chuyển từ người xem sang người tham gia, văn hóa mới tạo ra năng lực xã hội. Ở cấp độ này, thiết chế văn hóa không còn đơn thuần là nơi cung cấp sản phẩm cho công chúng, mà trở thành hạ tầng để năng lực sáng tạo trong cộng đồng được hình thành và lưu chuyển.
Điều này đặc biệt quan trọng trong môi trường số, nơi ranh giới giữa người sản xuất và người tiếp nhận gần như đã biến mất. Một chiếc điện thoại thông minh đủ để một người vừa là khán giả, vừa là người xuất bản, bình luận, quảng bá và phát tán nội dung.
Bởi vậy, mở rộng quyền sáng tạo hôm nay cũng đồng nghĩa với việc phải nâng cao năng lực văn hóa của công dân: biết sáng tạo, nhưng cũng biết chịu trách nhiệm với những gì mình tạo ra và lan truyền.
Nghị quyết 80 đặt ra một loạt mục tiêu lớn: 100% học sinh, học viên, sinh viên được tiếp cận thường xuyên hoạt động nghệ thuật và giáo dục di sản; 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả; bảo đảm hệ thống thiết chế đáp ứng nhu cầu sáng tạo và thụ hưởng; thu hẹp chênh lệch vùng miền, quan tâm nhóm yếu thế; dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa.
Theo GS.TS Từ Thị Loan - Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Văn hóa cộng đồng Việt Nam - để đạt mục tiêu này, có thể hình thành ít nhất năm nhóm chỉ số cần được theo dõi lâu dài.
Thứ nhất là khả năng tiếp cận: khoảng cách từ nơi cư trú tới thiết chế văn hóa; số ngày thiết chế mở cửa; chi phí sử dụng; tỷ lệ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và người ở vùng khó khăn có thể tiếp cận.
Thứ hai là mức độ tham gia: số người sử dụng thực tế, tần suất quay lại, số thẻ thư viện hoạt động, số lượt mượn và đọc, số người xem sân khấu, bảo tàng, điện ảnh, số người tham gia câu lạc bộ văn hóa - nghệ thuật.
Thứ ba là cơ hội sáng tạo: tỷ lệ học sinh được học và thực hành nghệ thuật thường xuyên; số chương trình cộng đồng cho phép người dân trực tiếp tham gia; không gian sáng tạo dành cho thanh thiếu niên; mức độ hỗ trợ những người sáng tạo trẻ và sáng tạo tại địa phương.
Thứ tư là chất lượng môi trường văn hóa: mức độ hài lòng của người dân với thiết chế, không gian công cộng và hoạt động văn hóa; sự an toàn, thân thiện, bình đẳng trong tiếp cận; khả năng duy trì những chuẩn mực ứng xử trong gia đình, trường học, cộng đồng.
Thứ năm là văn minh số: năng lực nhận diện tin giả, tôn trọng quyền tác giả, bảo vệ dữ liệu cá nhân, ứng xử với khác biệt, mức độ bạo lực ngôn từ và trách nhiệm của người sáng tạo nội dung.
Các chỉ số này khó đo hơn số lượng công trình hay doanh thu. Nhưng chính vì khó, chúng mới chạm gần hơn đến kết quả cuối cùng của chính sách.
Một địa phương có thể không tổ chức được một đại nhạc hội hàng chục nghìn người nhưng duy trì được thư viện đông trẻ em mỗi tuần, một nhà văn hóa sáng đèn mỗi tối, những câu lạc bộ nghệ thuật hoạt động quanh năm và một mạng lưới giáo dục di sản gắn với trường học. Xét về tác động lâu dài lên con người, giá trị của những hoạt động nhỏ và bền bỉ ấy không dễ xếp dưới một sự kiện lớn.
Ngược lại, một nơi có thể liên tục lập kỷ lục về số sự kiện nhưng phần đông người dân vẫn đứng ngoài đời sống nghệ thuật. Khi đó, khoảng cách giữa “phát triển văn hóa” trên báo cáo và trải nghiệm văn hóa thực tế vẫn còn nguyên.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh nếu coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai thì điểm bắt đầu phải là giáo dục, gia đình và cộng đồng, ba môi trường hình thành nhân cách. Theo ông, văn hóa không chỉ nằm trong bảo tàng hay sân khấu mà còn nằm trong cách con người sống, ứng xử, lao động, phụng sự và yêu thương.
Tất nhiên, công nghiệp văn hóa cần sự tăng trưởng. Những nhà hát, bảo tàng, thư viện và trung tâm văn hóa vẫn cần được xây dựng. Việt Nam cũng cần những bộ phim có doanh thu lớn, những concert hàng chục nghìn khán giả, những sản phẩm sáng tạo đủ sức xuất khẩu và những thương hiệu văn hóa có khả năng cạnh tranh quốc tế. Không có thị trường đủ mạnh, văn hóa khó tạo được nguồn lực để phát triển bền vững. Nhưng đó mới là một nửa phép đo.
Nửa còn lại nằm ở một đứa trẻ có thường xuyên được xem một vở kịch hay không; một người dân vùng xa có thể đọc cuốn sách mình cần hay không; một người trẻ có không gian để thử sức sáng tạo hay không; một người khuyết tật có bước vào bảo tàng thuận lợi hay không; một khán giả có đủ năng lực thẩm mỹ để lựa chọn sản phẩm có chất lượng hay không; một công dân trên mạng có biết dừng lại trước nút “chia sẻ” khi chưa kiểm chứng thông tin hay không.
Và cuối cùng, sau những khoản đầu tư lớn hơn, thiết chế nhiều hơn, sản phẩm phong phú hơn, đời sống của con người có trở nên giàu có hơn về tinh thần, văn minh hơn trong ứng xử và rộng mở hơn về khả năng sáng tạo hay không. Nếu câu trả lời là có, những con số tăng trưởng mới thực sự mang ý nghĩa của phát triển văn hóa.
Bởi đến cuối cùng, công trình là phương tiện, công nghiệp văn hóa là phương thức tạo nguồn lực, chính sách là công cụ. Con người mới là nơi những nguồn lực ấy phải tạo ra thay đổi và cũng là thước đo cuối cùng của một nền văn hóa đang phát triển.