Một tác phẩm văn học có thể mất nhiều năm, thậm chí nhiều thế hệ để tích lũy giá trị trong công chúng. Câu chuyện, nhân vật, bối cảnh và những lớp văn hóa đã có sẵn là nguồn nguyên liệu quý đối với các ngành sáng tạo.
Nhưng ở Việt Nam, phần lớn nguồn tài nguyên này vẫn dừng lại trên trang sách. Những thử nghiệm đưa văn học sang các loại hình khác đã xuất hiện. Đẩy xe bò của Phương Mỹ Chi lấy cảm hứng từ Vợ nhặt của Kim Lân, Để Mị nói cho mà nghe của Hoàng Thùy Linh phỏng theo Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.
Chiếc lược ngà cũng lấy cảm hứng từ truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Quang Sáng. Nhạc kịch Giấc mơ Chí Phèo đưa nhân vật văn học lên sân khấu bằng sự kết hợp của xẩm, rap, pop ballad, jazz, funk, rock...
Tour đêm Chữ Tâm, Chữ Tài tại Bảo tàng Văn học Việt Nam lại đưa tác phẩm vào một không gian trải nghiệm bằng ánh sáng và nghệ thuật kể chuyện.
Các trường hợp trên cho thấy một tác phẩm không nhất thiết kết thúc vòng đời ở cuốn sách. Câu chuyện có thể đi tiếp sang âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, du lịch, game và nhiều sản phẩm khác.
Nhưng lấy cảm hứng hay chuyển thể mới chỉ là bước đầu. Một chất liệu chỉ thực sự trở thành tài sản có khả năng tích lũy giá trị khi chủ thể quyền, phạm vi khai thác, quyền chuyển thể, quyền cấp phép và cách chia sẻ lợi ích được xác lập rõ. Nếu không có bước này, thành công dễ dừng ở một sản phẩm đơn lẻ thay vì tiếp tục mở ra những vòng khai thác mới.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội - đề xuất cần coi văn học là mắt xích của công nghiệp văn hóa, là “nguồn tài nguyên, một dạng nguyên liệu mềm” có thể khai thác theo nhiều cách. Theo ông, chính sách vì vậy không chỉ dừng ở hỗ trợ sáng tác mà cần mở rộng tới sản xuất, phân phối và tiêu thụ.
TS. Đặng Thị Thủy Sam cũng nhìn nhận văn học hoàn toàn có thể trở thành nội dung gốc của các sản phẩm sáng tạo. Một tác phẩm đã có hệ thống nhân vật, câu chuyện và những lớp giá trị văn hóa được tích lũy qua thời gian - thứ mà nhiều ngành khác phải đầu tư đáng kể để xây dựng từ đầu.
Khoảng cách lớn nằm giữa việc nhận ra một chất liệu hay và biến nó thành tài sản có khả năng sinh giá trị.
Một MV lấy cảm hứng từ tác phẩm văn học có thể gây chú ý, một vở nhạc kịch có thể cháy vé, một tour văn học có thể trở thành sản phẩm định kỳ.
Nhưng để hình thành công nghiệp, còn một bước dài: Xác định ai là chủ thể quyền, những quyền nào có thể chuyển giao hoặc cấp phép, phạm vi và thời hạn khai thác ra sao, giá trị thương mại được xác định thế nào và từ tài sản ban đầu có thể phát triển thành bao nhiêu sản phẩm.
Đây cũng là điểm khác biệt giữa khai thác chất liệu văn hóa và xây dựng IP (Intellectual Property - sở hữu trí tuệ).
Ở những thị trường phát triển, một nhân vật hoặc thế giới sáng tạo có thể đồng thời hiện diện trong sách, phim, trò chơi, sân khấu, đồ chơi, triển lãm, du lịch và hàng lưu niệm. Mỗi sản phẩm có vòng đời riêng nhưng tiếp tục bồi đắp giá trị cho cùng một tài sản.
TS. Đặng Thị Thủy Sam nhận định điểm chung của nhiều mô hình quốc tế là không xem văn học như một di sản tĩnh. Văn học được đặt vào hệ sinh thái từ xuất bản, điện ảnh, trò chơi đến du lịch trải nghiệm và mỗi khâu lại tạo thêm giá trị.
Đó cũng là logic cốt lõi của công nghiệp văn hóa. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định sản phẩm công nghiệp văn hóa là sự kết hợp giữa yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời đặt yêu cầu hình thành hệ sinh thái liên kết chuyên nghiệp giữa sáng tạo, sản xuất, kinh doanh, quảng bá và tiêu dùng gắn với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Vì vậy, khả năng biến một câu chuyện, nhân vật hay chất liệu văn hóa thành tài sản có thể được đầu tư, cấp phép và khai thác lâu dài chính là thước đo năng lực của công nghiệp văn hóa.
Khoảng trống ở Việt Nam vì thế không hẳn nằm ở đầu vào. Thị trường đã có phim doanh thu hàng trăm tỷ đồng, concert thu hút hàng chục nghìn người và chương trình giải trí có sức lan tỏa lớn. Những kết quả đó chứng minh năng lực sáng tạo, sản xuất và sức mua của công chúng. Nhưng một sản phẩm thành công chưa đồng nghĩa hình thành một tài sản văn hóa có thể tiếp tục tạo doanh thu sau nhiều năm.
Thành công của một sản phẩm chưa đồng nghĩa với khả năng tích lũy giá trị của một IP. Một bộ phim có thể đạt doanh thu lớn, một concert có thể kín chỗ, một game show có thể tạo hiệu ứng mạnh, nhưng nếu nhân vật, câu chuyện, thương hiệu và các quyền khai thác tiếp theo không được phát triển, phần giá trị dài hạn vẫn có thể dừng ở chính sản phẩm ban đầu.
Ngược lại, một IP được quản trị tốt có thể tiếp tục sống qua nhiều hình thức khai thác và nhiều vòng đời thị trường.
Vấn đề đặt ra là tài sản đó được định giá thế nào. Nhiều tác phẩm chưa có cơ chế khai thác đủ rõ từ xác định chủ thể quyền, chuyển nhượng, cấp phép đến phạm vi sử dụng. Với hoạt động chuyển thể, nhà sản xuất còn phải làm rõ quyền làm tác phẩm phái sinh và thỏa thuận với chủ thể quyền có liên quan. Khi thiếu một đầu mối tra cứu, xác minh và kết nối đủ tin cậy, mỗi dự án lại phải bắt đầu quá trình tìm chủ thể quyền và đàm phán gần như từ đầu.
Hiện nay, nhiều tác phẩm chưa có cơ chế khai thác rõ ràng từ định giá, chuyển nhượng đến phạm vi sử dụng. Doanh nghiệp muốn chuyển thể phải tự tìm chủ thể quyền và đi đàm phán từ đầu, trong khi thiếu một hệ thống trung gian đủ tin cậy để kết nối người nắm giữ bản quyền với bên sản xuất.
Nếu quyền sở hữu chưa rõ, giá trị tài sản khó xác định. Khi giá trị chưa được xác định và khả năng khai thác tương lai khó dự báo, việc gọi vốn cho một dự án dựa trên IP cũng trở nên khó khăn.
Nhà sản xuất Trần Bích Ngọc nhận xét vấn đề không nằm ở việc Việt Nam thiếu tác phẩm hay, mà ở chỗ chưa có hệ sinh thái để chuyển hóa tác phẩm thành sản phẩm, khiến văn học vẫn đứng ngoài chuỗi giá trị. Bà đề xuất hình thành hệ thống tra cứu thông tin quyền tác giả, tổ chức các hội chợ nội dung văn học, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chuyển thể và có hỗ trợ tài chính cho những dự án thử nghiệm.
Khoảng trống tương tự xuất hiện ở hoạt hình. Việt Nam có lực lượng nhân sự có khả năng tham gia những dự án quốc tế, nhưng năng lực sản xuất chưa tự động chuyển thành năng lực sở hữu tài sản.
Theo Hiệp hội Kỹ xảo điện ảnh và hoạt hình Việt Nam (VAVA), ước tính hơn 60% studio hoạt hình và VFX tại Việt Nam đã tham gia khá sâu vào các dự án quốc tế. Đó là lợi thế về con người, kỹ thuật và quy trình. Nhưng nếu phần lớn năng lực này được sử dụng cho gia công, giá trị lớn nhất của sản phẩm - quyền sở hữu đối với nhân vật và thế giới sáng tạo - lại thuộc về bên khác. Đạo diễn, NSƯT Trịnh Lâm Tùng gọi đây là “nỗi đau nghề gia công”.
Bài toán công nghiệp văn hóa vì vậy không đơn thuần là làm được bao nhiêu phim hay sản xuất được bao nhiêu giờ nội dung. Quan trọng hơn là sau quá trình sản xuất, ai sở hữu tài sản và tài sản đó tiếp tục sinh giá trị cho ai.
Theo ông Đinh Bá Thành - Chủ tịch sáng lập DatVietVAC - yếu tố quyết định khả năng tích lũy giá trị là doanh nghiệp có sở hữu IP và quyền khai thác hay không.
“Một sản phẩm sáng tạo nếu chỉ dừng ở việc phát hành sẽ có vòng đời ngắn. Khi doanh nghiệp sở hữu IP, giá trị có thể tiếp tục mở rộng sang nhiều lĩnh vực và hình thành hệ sinh thái kinh doanh có giá trị gia tăng cao”, ông Đinh Bá Thành nhận định.
Điều này đòi hỏi thay đổi ngay từ cách phát triển một dự án. Thay vì làm phim rồi chờ phim thắng mới nghĩ đến phần hai, hoặc tổ chức một chương trình thành công rồi mới tìm cách khai thác tiếp, vòng đời IP cần được tính ngay từ đầu.
Một nhân vật đủ hấp dẫn có thể bước từ màn ảnh sang truyện tranh. Từ truyện tranh sang game, đồ chơi, thời trang, triển lãm, biểu diễn hoặc sản phẩm du lịch. Một chất liệu di sản cũng có thể đi từ không gian trưng bày sang thiết kế, hàng lưu niệm, nội dung số và trải nghiệm tại điểm đến. Khi các lĩnh vực cùng tham gia, giá trị không còn nằm trong một lần bán vé.
Để làm được điều đó, bên cạnh người sáng tạo cần có doanh nghiệp đủ sức nuôi IP trong 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn, đội ngũ pháp lý để quản lý quyền, đơn vị định giá, nhà đầu tư, nhà sản xuất và hệ thống phân phối. Thị trường cũng cần những thiết chế trung gian như đầu mối tra cứu và xác minh quyền, chợ nội dung, cơ chế cấp phép minh bạch và kênh kết nối tác giả, chủ sở hữu với doanh nghiệp.
Ông Đinh Bá Thành cho rằng Việt Nam cần hướng đến những IP “Make in Vietnam” có khả năng chinh phục thị trường quốc tế. Theo đề xuất của ông, cần đánh giá và lựa chọn những doanh nghiệp công nghiệp văn hóa nội dung có khả năng dẫn dắt thị trường dựa không chỉ vào doanh thu mà còn ở năng lực sáng tạo nguyên bản, sở hữu và thương mại hóa IP, ứng dụng công nghệ, xuất khẩu nội dung và hợp tác quốc tế.
Đây là đề xuất từ phía doanh nghiệp, nhưng đặt ra một câu hỏi đáng chú ý: Nếu doanh thu của một bộ phim hay một concert chỉ phản ánh thành công tại một thời điểm, đâu là thước đo cho sức mạnh dài hạn của công nghiệp văn hóa?
Như vậy, nguồn tài nguyên chỉ là điểm xuất phát. Tác phẩm văn học hay, di sản phong phú hay đội ngũ sáng tạo giỏi chưa tự tạo thành một ngành công nghiệp nếu những giá trị đó không được xác lập quyền, bảo vệ, định giá, đầu tư và đưa vào thị trường.
Việt Nam đã có những sản phẩm văn hóa thành công. Bước tiếp theo khó hơn là biến thành công của từng sản phẩm thành tài sản có khả năng tích lũy.
Từ bài toán xây dựng IP, câu chuyện quay trở lại năng lực của doanh nghiệp. Một cá nhân có thể tạo ra nhân vật hay, một ê-kíp có thể làm nên bộ phim ăn khách, nhưng để nuôi một tài sản sáng tạo trong nhiều năm cần vốn, năng lực pháp lý, hệ thống phân phối, chiến lược thương mại và khả năng mở rộng thị trường.
Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, ông Đinh Bá Thành cho rằng Việt Nam cần hình thành những doanh nghiệp công nghiệp văn hóa nội dung đủ sức dẫn dắt thị trường và đưa IP “Make in Vietnam” ra bên ngoài. Theo ông, tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp đầu đàn không nên chỉ nhìn vào doanh thu mà còn phải tính đến năng lực sáng tạo nguyên bản, sở hữu và thương mại hóa IP, khả năng phân phối, xuất khẩu nội dung và hợp tác quốc tế.
Đây là đề xuất từ phía doanh nghiệp. Ở cấp chính sách, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng đặt yêu cầu phát triển doanh nghiệp, tạo hệ sinh thái liên kết chuyên nghiệp giữa các khâu và tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Điểm gặp nhau nằm ở yêu cầu phải có những chủ thể thị trường đủ sức biến thành công của từng sản phẩm thành tài sản có thể tích lũy và mở rộng giá trị.
Theo cách tiếp cận này, hỗ trợ công nghiệp văn hóa không đơn thuần là trợ lực cho một ngành giải trí. Đó là tạo điều kiện để những tài sản trí tuệ có khả năng tạo giá trị gia tăng cao được hình thành, bảo vệ, đầu tư và đưa ra thị trường; đồng thời tạo thêm những sản phẩm mang bản sắc Việt Nam có sức cạnh tranh lâu dài.
Ông Đinh Bá Thành đề xuất cơ chế “thẩm định 360 độ” để lựa chọn doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt thị trường. Giá trị đáng chú ý của đề xuất này không nằm ở một vài ngưỡng doanh thu cụ thể, mà ở cách chuyển trọng tâm đánh giá từ số lượng sản phẩm sang năng lực sở hữu, khai thác và làm tăng giá trị của IP trong thời gian dài.
Câu chuyện xuất khẩu văn hóa vì vậy cũng cần được đặt trên nền tảng sở hữu. Thay vì chờ một bộ phim, ca sĩ hay chương trình tình cờ được chú ý ở nước ngoài, doanh nghiệp phải có quyền khai thác đủ rõ, chiến lược cấp phép và đối tác phân phối để đưa sản phẩm đi xa hơn một lần phát hành.
Cùng với tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp đầu đàn, lãnh đạo DatVietVAC đề xuất các nhóm chính sách về ưu đãi cho hoạt động sáng tạo nội dung, hỗ trợ đầu tư và xuất khẩu, cơ chế định giá tài sản trí tuệ để IP có thể giao dịch và huy động vốn, cùng biện pháp bảo vệ bản quyền hiệu quả hơn.
Các đề xuất này trở lại đúng mắt xích trung tâm của bài toán: muốn hình thành doanh nghiệp công nghiệp văn hóa lớn, trước hết phải có những tài sản trí tuệ được sở hữu rõ ràng và có khả năng xác lập giá trị trên thị trường.
Quy mô bền vững của một doanh nghiệp công nghiệp văn hóa không thể chỉ tích lũy từ số lượng phim, concert hay gameshow đã sản xuất. Nền tảng dài hạn phải nằm ở thư viện nội dung, nhân vật, thương hiệu, hệ thống phân phối và những IP có khả năng tạo doanh thu qua nhiều năm.
Một bộ phim doanh thu hàng trăm tỷ đồng cho thấy sức mua của công chúng tại một thời điểm. Một nhân vật, câu chuyện hay thương hiệu có thể được theo đuổi trong 10-20 năm, liên tục tạo ra phim, sách, game, hàng hóa, trải nghiệm du lịch và doanh thu cấp phép mới cho thấy năng lực tích lũy của một nền công nghiệp.
Khi quyền sở hữu, định giá, vốn, sản xuất và thị trường được nối với nhau, câu hỏi của công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ không chỉ là năm nay có bao nhiêu bộ phim trăm tỷ hay bao nhiêu concert kín chỗ, mà là Việt Nam đang sở hữu bao nhiêu tài sản văn hóa có thể tiếp tục sinh giá trị trong hàng chục năm.
Tuy nhiên, theo Chủ tịch sáng lập DatVietVAC, nỗ lực riêng của doanh nghiệp là chưa đủ. Nếu trung tâm tài chính quốc tế hay khu công nghệ cao được áp dụng những cơ chế đặc thù để thu hút đầu tư và tạo động lực tăng trưởng, công nghiệp văn hóa cũng cần chính sách tương xứng.
Theo cách tiếp cận này, hỗ trợ công nghiệp văn hóa không đơn thuần là trợ lực cho một ngành giải trí. Đó là đầu tư vào lĩnh vực có khả năng tạo giá trị gia tăng cao từ tài sản trí tuệ, đồng thời đưa hình ảnh và văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế.
Nhóm năng lực tiếp theo được ông Đinh Bá Thành đặt vào công nghệ và tài sản số.
Theo đề xuất, doanh nghiệp dẫn dắt cần sở hữu, vận hành nền tảng phân phối nội dung Việt Nam xuyên biên giới, có khả năng đưa sản phẩm lên các mạng xã hội và nền tảng quốc tế; đồng thời ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo xuyên suốt chuỗi sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu thụ.
Một chỉ số khác được đưa ra là khả năng tiếp cận tối thiểu 20% tổng số người dùng Internet Việt Nam hằng tháng.
Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải chứng minh khả năng biến sở hữu trí tuệ thành tiền khi giá trị gia tăng từ hoạt động sản xuất, phân phối và khai thác IP đạt ít nhất 25% tổng doanh thu.
Nhóm thứ ba là sức cạnh tranh và xuất khẩu.
Doanh nghiệp cần có hợp tác chiến lược hoặc liên doanh với các đối tác quốc tế, đưa điện ảnh, concert và các sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thị trường bên ngoài.
Đề xuất này phản ánh một bước chuyển quan trọng trong cách đặt vấn đề về xuất khẩu văn hóa. Thay vì chờ một bộ phim, ca sĩ hay chương trình tình cờ được chú ý ở nước ngoài, cần có đầu mối thường trực để kết nối sản phẩm, vốn, công nghệ, nhân lực và đối tác quốc tế.
Cùng với tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp đầu đàn, đại diện DatVietVAC đề xuất một số nhóm chính sách: ưu đãi thuế cho hoạt động sáng tạo nội dung; hỗ trợ đầu tư và xuất khẩu đối với điện ảnh, âm nhạc, hòa nhạc; xây dựng cơ chế định giá tài sản trí tuệ để IP có thể giao dịch và huy động vốn; tăng cường bảo vệ bản quyền và có cơ chế xử lý nhanh hành vi vi phạm.
Những đề xuất đó trở lại đúng mắt xích trung tâm của câu chuyện: muốn có doanh nghiệp tỷ USD từ công nghiệp văn hóa, trước hết phải có tài sản văn hóa được sở hữu và có khả năng định giá.
Một doanh nghiệp khó trở thành “kỳ lân” chỉ nhờ liên tục sản xuất phim, concert hay gameshow. Quy mô bền vững phải được tích lũy từ thư viện nội dung, nhân vật, thương hiệu, dữ liệu người dùng, hệ thống phân phối và những IP có khả năng tạo doanh thu qua nhiều năm.
Đây cũng là lý do khoảng cách giữa một thị trường giải trí sôi động và một nền công nghiệp văn hóa mạnh vẫn còn rất lớn.
Để đạt được mục tiêu ấy, tăng số lượng phim, concert hay chương trình truyền hình là chưa đủ. Việt Nam cần thêm những tài sản có khả năng sống lâu hơn từng sản phẩm và những doanh nghiệp đủ năng lực giữ, nuôi và đưa các tài sản ấy ra thị trường.
Khi quyền sở hữu, định giá, vốn, sản xuất và thị trường được nối với nhau, câu hỏi của công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ không chỉ là năm nay có bao nhiêu bộ phim trăm tỷ hay bao nhiêu concert kín chỗ, mà là Việt Nam đang sở hữu bao nhiêu tài sản văn hóa có thể tiếp tục sinh giá trị trong hàng chục năm.