Câu chuyện tiêu dùng di sản
Festival Thăng Long - Hà Nội 2026 diễn ra từ 11-20/9 với chuỗi hoạt động trải rộng trên nhiều không gian di sản của Thủ đô. Tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, công chúng có thể tiếp cận trưng bày nghệ thuật lịch sử áo dài Nét Hà thành từ 11-19/9, trưng bày tranh, tượng Thăng Long - Hà Nội Nét kinh kỳ từ 12-19/9, trưng bày trống truyền thống Nhất trống - Ngàn năm văn hiến từ 14-19/9 và giao lưu thư pháp Nét chữ an nhiên từ 15-19/9. Bảo tàng Hà Nội dành một khoảng thời gian dài hơn, từ 13-30/9, cho trưng bày và trải nghiệm Hướng về thành phố xa xưa: Hai thập niên tân nhạc Hà Nội (1934-1954).
Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội Lê Thị Ánh Mai cho rằng, festival hướng tới việc kết nối di sản với nghệ thuật, sáng tạo, du lịch và các hoạt động văn hóa đương đại, qua đó “góp phần phát huy giá trị di sản, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa và từng bước xây dựng thương hiệu văn hóa của Thủ đô”. Theo bà Mai, cách tiếp cận của festival năm nay cũng đặt di sản trong dòng chảy giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, để công chúng có thể tiếp cận di sản bằng những phương thức mới.
Năm nay, riêng chuỗi hoạt động tại Hoàng thành Thăng Long được kỳ vọng thu hút khoảng 250.000 lượt khách, vượt tổng lượng khách gần 200.000 lượt của Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ nhất năm 2025. Tất nhiên, dù quy mô đang tăng song việc một festival tạo ra bao nhiêu giá trị còn phụ thuộc vào dòng khách ở lại bao lâu, chi tiêu ở đâu và tiếp tục tìm đến những sản phẩm văn hóa nào.
Để làm được điều này, theo bà Thanh Hà (Công ty lữ hành Viettravel), chuỗi chương trình phải có những điểm kết nối, nhất là với một thành phố có mật độ di sản lớn như Hà Nội. Bà Hà lấy ví dụ, một khán giả đến Hoàng thành xem chương trình buổi tối có thể dành ban ngày cho Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Bảo tàng Hà Nội hoặc Bát Tràng.
Khi hành trình được tổ chức tốt, một lượt tham dự festival có thể kéo theo thêm một đêm lưu trú, một bữa ăn, một chuyến xe, một món đồ thủ công hay một trải nghiệm tại làng nghề. Giá trị của di sản lúc đó mới bắt đầu lan sang du lịch, ẩm thực, bán lẻ và các ngành sáng tạo.
TS Lê Thái Anh (Viện Hàn Lâm KHXH), người đã từng làm nghiên cứu về những Festival ở Edinburgh (Scotland) cho biết, thành phố này có khoảng 11 festival lớn, mỗi năm thu hút khoảng 3-5 triệu lượt tham dự và tạo ra tác động kinh tế khoảng 400-500 triệu bảng cho Edinburgh. Phần đáng kể trong khoản chi của du khách lại nằm ngoài các sân khấu festival: khoảng 90 triệu bảng cho lưu trú, 50 triệu bảng cho ăn uống và 35 triệu bảng cho mua sắm. Khách lưu trú ở lại thành phố trung bình 4,6 đêm.
Ông Thái Anh cho rằng, với Festival Thăng Long - Hà Nội 2026, sự hiện diện đồng thời của di tích, bảo tàng, làng nghề, nghệ thuật trình diễn và các hoạt động trải nghiệm đang tạo điều kiện để thử nghiệm mô hình này. Nếu những điểm đến ấy được kết nối thành hành trình đủ hấp dẫn, công chúng hoàn toàn có thể dành thêm thời gian và chi tiêu. Như thế, vốn di sản của Hà Nội mới bắt đầu chuyển hóa thành một nguồn lực có khả năng tạo ra giá trị mới.
Một sự kiện có thể sống bao lâu?
Festival Thăng Long - Hà Nội 2026 diễn ra đúng thời điểm câu chuyện khai thác giá trị văn hóa được đặt vào một yêu cầu phát triển cụ thể hơn. Nghị quyết 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam vừa ban hành ngày 22/8 xác định Hà Nội là một trong ba cực tăng trưởng du lịch của cả nước đến năm 2030. Định hướng mới cũng nhấn mạnh việc chuyển từ tăng trưởng dựa vào số lượng sang chất lượng, lấy văn hóa làm nền tảng, bản sắc và trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh.
Thủ đô có Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, hệ thống bảo tàng, phố cổ, hàng nghìn di tích cùng mạng lưới làng nghề như Bát Tràng, Vạn Phúc. Nhiều chuyên gia cho rằng, cái thiếu không hẳn là nguyên liệu, mà chính là khả năng kết nối những tài sản ấy thành những sản phẩm văn hóa đủ hấp dẫn để người dân và du khách sẵn sàng dành thời gian và tiền bạc cho chúng.
“Chẳng hạn, Thanh âm Gốm nếu chỉ xuất hiện trong hai tối 19-20/9 ở Bát Tràng thì sẽ chỉ dừng lại ở một hoạt động của festival. Nhưng nếu cách khai thác đủ hấp dẫn để phát triển thành một chương trình biểu diễn định kỳ, kết hợp tham quan làng cổ, xưởng gốm, trải nghiệm chế tác và mua sản phẩm, nó có thể trở thành một phần của sản phẩm du lịch Bát Tràng, giống như xiếc tre hay diễn thực cảnh ở Hội An. Tương tự, các trưng bày áo dài, thư pháp, trống truyền thống hay câu chuyện về hai thập niên tân nhạc Hà Nội cũng có thể được nhìn như những phép thử về khả năng tạo sản phẩm mới từ vốn văn hóa cũ”, bà Thanh Hà kiến nghị.
Đây cũng chính là mục tiêu được Hà Nội đặt ra khi tổ chức festival. Kế hoạch 173/KH-UBND của UBND thành phố xác định sự kiện phải góp phần hình thành các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật và lễ hội đặc trưng mang thương hiệu Hà Nội, kích cầu du lịch và thúc đẩy hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Thành phố đồng thời đặt mục tiêu tỷ trọng công nghiệp văn hóa đạt khoảng 6% trong năm 2026 và 8% vào năm 2030.
TS Lê Thái Anh cho rằng, những mục tiêu này khiến yêu cầu về “tuổi thọ” của một festival trở nên cấp thiết hơn. Nếu mỗi năm ngân sách, nhân lực và không gian được huy động để sản xuất một loạt chương trình rồi tất cả kết thúc cùng lễ bế mạc, thành phố sẽ phải bắt đầu gần như từ đầu ở mùa tiếp theo.
“Festival không nên được xem như nơi tiêu tiền để tổ chức văn hóa, mà phải là nơi thử nghiệm thị trường cho văn hóa. Sau 10 ngày, nếu một chương trình hay vẫn không biết bán cho ai, một nghệ nhân vẫn không có thêm đơn hàng, một điểm di sản vẫn chưa có sản phẩm mới và du khách vẫn chỉ đến chụp ảnh rồi rời đi, chúng ta mới làm được phần sự kiện chứ chưa làm được phần công nghiệp. Giá trị lớn nhất của festival phải là phát hiện xem sản phẩm văn hóa nào có thể sống được bằng nhu cầu thực của công chúng. Dòng chảy di sản khi ấy mới thực sự là một dòng chảy: từ di sản sang sáng tạo, từ sáng tạo thành trải nghiệm, từ trải nghiệm tạo ra chi tiêu và việc làm, rồi một phần nguồn lực kinh tế ấy trở lại nuôi dưỡng di sản”, TS. Lê Thái Anh phân tích.