Chiến thắng dễ đoán
Việc Mưa đỏ được vinh danh ở Cánh diều vàng 2025 sau khi đã đi trước một bước ở các giải khác không khiến nhiều người ngạc nhiên. Đây là chiến thắng dễ đoán khi tác phẩm đã trở thành biểu tượng mùa giải và thường thắng theo dây chuyền.
Trong lịch sử các giải thưởng điện ảnh, cả trong nước và nước ngoài, hiếm có chuyện mỗi giải một phim. Thực tế phổ biến vẫn là vài cái tên dẫn đầu, rồi phần còn lại chia nhỏ chiến thắng ở các hạng mục phụ. Thường một tác phẩm đã đạt đủ độ đồng thuận, người ta sẽ thấy giống như “thời tới cản không nổi”. Điều này không phải bí mật hậu trường gì ghê gớm, mà vì giải thưởng có xu hướng đổ dồn sự chú ý vào thương hiệu đang được thừa nhận là mạnh nhất.
Công thức này tồn tại ở mọi nơi. La La Land từng lập kỷ lục 7 Quả cầu vàng trong một đêm và ngay lập tức trở thành trung tâm của cả mùa giải.
Oppenheimer thắng lớn tại BAFTA với 7 giải, rồi tiếp tục bước vào Oscar trong tư thế ứng viên áp đảo.
Ở Oscar, chuyện “càn quét” còn được coi là biểu tượng quyền lực của một năm: Ben-Hur (1959), Titanic (1997), Chúa tể của những chiếc nhẫn: Sự trở lại của nhà vua (2003) đều giành 11 tượng vàng. Những chiến thắng kiểu này không hiếm. Bởi hệ thống giải thưởng luôn có tính cộng hưởng.
Một phim đã thắng ở giải A, lập tức được nhìn bằng con mắt “đương nhiên là hay”, và bước sang giải B với lợi thế vô hình: truyền thông nhắc nhiều hơn, hội đồng chấm dễ kỳ vọng hơn, thậm chí khán giả cũng tạo áp lực đồng thuận.
“Một bộ phim có thể thắng cả Phim hay nhất lẫn Đạo diễn, Quay phim, Mỹ thuật hay Âm thanh là chuyện logic, bởi các hạng mục này là những lát cắt khác nhau của cùng một năng lực sản xuất. Một tác phẩm tổ chức tốt thường tạo ra gói chất lượng đồng bộ: kịch bản ổn, đạo diễn điều tiết chắc, hình ảnh thuyết phục, không gian nghệ thuật và thiết kế mỹ thuật nâng được câu chuyện, nhịp dựng gọn gàng, âm thanh, âm nhạc khó mà bới móc”, nhà phê bình Nguyễn Phan Dương nhận định.
Vì vậy, nếu Mưa đỏ thắng nhiều giải, theo ông Dương, có thể hiểu phim đang sở hữu lợi thế ở diện rộng, không chỉ một mảng. Điều này cũng giống cách Oscar từng trao 11 tượng vàng cho Titanic: chiến thắng của phim không chỉ ở câu chuyện tình, mà nằm ở tổng hòa kỹ thuật, quy mô, tổ chức sản xuất. Một tác phẩm thắng lớn thường là tác phẩm thắng bằng hệ thống, chứ không phải bằng một khoảnh khắc lóe sáng.
Nhiều năm nay, điện ảnh Việt vẫn mắc kẹt trong những mâu thuẫn quen thuộc: phim thương mại đông khách thì hay bị chê dễ dãi, phim nghệ thuật được khen thì ít người xem. Một tác phẩm vừa có sức kéo phòng vé vừa có khả năng gom đồng thuận từ giới chuyên môn thường được nâng lên như bằng chứng rằng “điện ảnh Việt đang ổn”.
Trong tâm thế ấy, việc Mưa đỏ thắng liên tiếp cũng phản ánh nhu cầu ổn định, nhu cầu khẳng định, nhu cầu có một câu chuyện chiến thắng đẹp.
Vậy có bình thường?
Trả lời cho câu hỏi này, nhiều nhà phê bình, đạo diễn, nhà sản xuất đều khẳng định một bộ phim nhận nhiều giải thưởng là bình thường. Nó phản ánh mức độ áp đảo của một ứng viên trong một năm cụ thể, phản ánh sự đồng thuận của mùa giải, và phản ánh cả điểm chạm của tâm lý xã hội. Mưa đỏ thắng nhiều không phải vấn đề.
Vấn đề nằm ở cách thị trường tiếp nhận chiến thắng ấy. Nếu chiến thắng của Mưa đỏ kéo chuẩn làm phim lên, thúc đẩy sự chỉn chu và nâng chất lượng tổ chức sản xuất, đó là lợi ích. Nhưng nếu nó biến thành công thức để hàng loạt dự án chạy theo mô phỏng, bắt chước, điện ảnh Việt sẽ tiến rất nhanh vào vùng nhàm chán. Điều này không phải chưa từng xảy ra.
Ngay ở Hollywood, sau cơn mưa giải thưởng của La La Land, thị trường phim ảnh từng có giai đoạn lạm dụng thẩm mỹ hoài niệm và kiểu phim nhạc kịch, đến mức công chúng bắt đầu ngán, đòi đổi món liên tục.
“Cái bẫy nằm ở chữ an toàn. Điện ảnh là cuộc chơi của liều lĩnh, còn giải thưởng thường có xu hướng thiên về những lựa chọn khiến người ta yên tâm. Một nền điện ảnh trưởng thành cần những mùa giải có tranh luận, có phản biện, có nhiều gu thẩm mỹ cùng tồn tại. Nếu tác phẩm thắng theo kiểu không ai phản đối, chuyện ấy có thể tốt cho sự đồng thuận xã hội, nhưng lại chưa chắc tốt cho sự phát triển ngôn ngữ điện ảnh”, nhà phê bình Thảo Đan bình luận.