Chính sách có, thực thi khó
Luật Bảo vệ Môi trường có hiệu lực từ ngày 1/1/2022 đề ra một chính sách rất quan trọng quy định các địa phương phải thực hiện phân loại rác tại nguồn từ ngày 1/1/2025. Giới chuyên gia đánh giá đây là một chủ trương cực kỳ cần thiết, là lời giải cho bài toán quản lý chất thải rắn sinh hoạt nhức nhối nhiều năm qua. Tuy nhiên, sau hơn một năm quy định có hiệu lực và ba năm chuẩn bị trước đó, theo Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, việc thực hiện phân loại rác tại nguồn vẫn dừng ở quy mô thí điểm nhỏ lẻ với rất nhiều khó khăn, thách thức trong triển khai nhân rộng.
Theo các chuyên gia, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực tế này như nhận thức và thói quen của người dân chưa đồng đều, hệ thống hạ tầng và khâu thu gom, vận chuyển rác chưa đồng bộ. Ở nhiều nơi, dù người dân đã thực hiện phân loại nhưng khi thu gom lại bị trộn lẫn, làm giảm niềm tin và động lực tham gia. Việc thiếu thùng rác phân loại, phương tiện thu gom riêng biệt cũng là rào cản lớn, đặc biệt là thiếu công nghệ xử lý theo phân loại rác. Nguồn lực đầu tư còn hạn chế, các cơ chế đấu thầu, đặt hàng, đơn giá, định mức kinh tế kỹ thuật chưa phù hợp, chưa khuyến khích được doanh nghiệp đầu tư. Tuy nhiên, vướng mắc lớn nhất chính là việc thiếu sự quyết tâm, sự vào cuộc đồng bộ để tháo gỡ những vướng mắc này khi thực thi.
Theo chuyên gia Trịnh Lê Nguyên, một nguyên nhân khác khiến các chính sách khó đi vào cuộc sống là nhiều địa phương được giao trách nhiệm lớn trong bảo vệ môi trường nhưng thiếu ngân sách ổn định, nhân lực chuyên môn, dữ liệu nền và công cụ giám sát.
Tương tự như câu chuyện phân loại rác là câu chuyện về ô nhiễm không khí, cứ mỗi mùa đông, Hà Nội và nhiều tỉnh/thành phía Bắc lại hứng chịu các đợt ô nhiễm không khí nghiêm trọng kéo dài. Các chính sách, giải pháp đã được đề cập suốt nhiều năm qua. Tuy nhiên, việc triển khai các giải pháp trong thực tế gặp nhiều khó khăn dẫn đến kết quả chưa được như kỳ vọng.
Theo ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên, hơn một thập kỷ qua, Việt Nam ban hành nhiều chiến lược, luật và chương trình hành động nhằm giải quyết những vấn đề môi trường lớn nhưng kết quả đạt được trên thực tế lại khiêm tốn so với kỳ vọng.
Nguyên nhân được chuyên gia này lý giải là do nhiều chính sách môi trường được xây dựng theo tư duy tuyến tính trong khi vấn đề môi trường mang tính hệ thống. Phân loại rác tại nguồn là ví dụ điển hình. “Chính sách thường tập trung vào hành vi của hộ gia đình, trong khi chuỗi giá trị phía sau như thu gom, trung chuyển, xử lý, thị trường tái chế lại chưa sẵn sàng hoặc thiếu đồng bộ. Tương tự như vậy, cải thiện chất lượng không khí không thể chỉ dựa vào kiểm soát một vài nguồn phát thải, nếu các chính sách giao thông, quy hoạch đô thị, năng lượng và phát triển công nghiệp vẫn vận hành theo những logic khác nhau”, ông Nguyên nói.
Ðổi mới cách thức thực thi
Theo chuyên gia Trịnh Lê Nguyên, một nguyên nhân khác khiến các chính sách khó đi vào cuộc sống là nhiều địa phương được giao trách nhiệm lớn trong bảo vệ môi trường nhưng thiếu ngân sách ổn định, nhân lực chuyên môn, dữ liệu nền và công cụ giám sát. Trong bối cảnh đó, chính sách dễ bị hình thức hóa có kế hoạch, có báo cáo, nhưng thiếu khả năng kiểm soát đến cùng. Với các vấn đề như ô nhiễm không khí hay ô nhiễm sông hồ đòi hỏi theo dõi dài hạn, dữ liệu liên tục và can thiệp đa ngành thì sự thiếu hụt này càng bộc lộ rõ.
Một nguyên nhân khác là xung đột giữa mục tiêu bảo vệ môi trường và mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn vẫn chưa được xử lý thỏa đáng trong cơ chế ra quyết định. Ở nhiều đô thị, áp lực thu hút đầu tư, mở rộng hạ tầng, gia tăng mật độ xây dựng thường được ưu tiên hơn các lợi ích môi trường dài hạn. Trong khi đó, lợi ích môi trường trong dài hạn vốn khó đo lường ngay bằng chỉ tiêu kinh tế.
Bên cạnh đó, theo chuyên gia Trịnh Lê Nguyên, cơ chế khuyến khích và chế tài chưa đủ mạnh để thay đổi hành vi của các tác nhân chính. Trong nhiều trường hợp, chi phí vi phạm môi trường vẫn thấp hơn chi phí tuân thủ, nhất là đối với doanh nghiệp hoặc các hoạt động gây ô nhiễm. Ngoài ra, chủ trương xã hội hóa chưa được triển khai một cách thực chất. “Trong nhiều văn bản và phát biểu chính sách, việc huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng, khu vực tư nhân và người dân thường được nhấn mạnh như một giải pháp then chốt. Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ chế cụ thể để hiện thực hóa chủ trương này vẫn còn thiếu hoặc chưa đủ hấp dẫn”, ông Nguyên nêu.
Đặc biệt, sự thiếu vắng một tầm nhìn dài hạn, nhất quán và có sức dẫn dắt cho môi trường và thiên nhiên Việt Nam cũng là một nguyên nhân nền tảng. Quản trị môi trường cũng đang thiếu tính tham gia đầy đủ và có ý nghĩa của nhiều bên liên quan. Nhiều chính sách được ban hành theo cách từ trên xuống, trong khi việc thực thi lại phụ thuộc rất lớn vào cộng đồng, chính quyền cơ sở và khu vực tư nhân. “Khi người dân không thấy mình là một phần của giải pháp, còn doanh nghiệp chưa được đặt vào vai trò vừa chịu trách nhiệm vừa có cơ hội hưởng lợi từ chuyển đổi xanh, chính sách khó tạo ra sự thay đổi bền vững”, ông Nguyên nói.
Nhìn một cách công bằng, theo ông Trịnh Lê Nguyên, những khó khăn trong thực thi chính sách môi trường ở Việt Nam không phải là ngoại lệ mà là thách thức phổ biến của nhiều quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, chính từ những “điểm nghẽn” kéo dài này, yêu cầu đặt ra cho giai đoạn tới không chỉ là ban hành thêm chính sách mới, mà là đổi mới cách tiếp cận thực thi chính sách, coi môi trường là một bài toán quản trị hệ thống, đầu tư nghiêm túc cho năng lực thực thi, đồng thời xử lý xung đột lợi ích một cách minh bạch.