PV Tiền Phong đã có cuộc trao đổi với ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
kết quả từ việc tổ chức lại sản xuất
Thưa ông, trong bối cảnh tiêu chuẩn thị trường ngày càng khắt khe, đâu là yếu tố then chốt giúp rau quả Việt Nam không chỉ tăng trưởng mạnh mà còn đứng vững tại các thị trường lớn trong năm qua?
Theo đánh giá của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, kết quả tăng trưởng ấn tượng của xuất khẩu rau quả năm 2025 là tổng hòa của nhiều yếu tố. Trong đó, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, xuyên suốt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cùng sự vào cuộc chủ động của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các cơ quan chuyên môn giữ ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Thời gian qua, việc ký kết và triển khai các nghị định thư, thỏa thuận kỹ thuật với các nước nhập khẩu đã mở ra cánh cửa quan trọng cho nhiều loại trái cây Việt Nam tiếp cận những thị trường lớn, ổn định và có giá trị cao. Tuy nhiên, quá trình này không diễn ra một cách tự động. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn, trong đó có Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, chủ động trao đổi, làm việc thường xuyên với cơ quan quản lý của các nước nhập khẩu nhằm tháo gỡ kịp thời các rào cản kỹ thuật, xử lý các vướng mắc phát sinh và bảo đảm duy trì dòng chảy xuất khẩu thông suốt.
Ngoài ra, yếu tố then chốt là công tác tổ chức lại sản xuất trong nước được đẩy mạnh theo hướng căn cơ hơn. Các vùng sản xuất trọng điểm từng bước được hình thành và quản lý chặt chẽ, gắn với mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm soát dịch hại, dư lượng và thực hiện nghiêm truy xuất nguồn gốc. Đây là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, địa phương, sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, trong đó vai trò hướng dẫn kỹ thuật, giám sát và cảnh báo sớm của cơ quan chuyên môn được phát huy rõ nét.
Thực tiễn năm 2025 cho thấy, những địa phương và doanh nghiệp tuân thủ tốt các yêu cầu kỹ thuật, đầu tư bài bản vào vùng nguyên liệu và chế biến đã tận dụng rất hiệu quả cơ hội thị trường.
Sầu riêng đang trở thành “đầu tàu” của xuất khẩu rau quả với kim ngạch năm 2025 khoảng 4 tỷ USD, nhưng thời gian qua cũng phát sinh nhiều cảnh báo về chất lượng và công tác tổ chức. Từ góc độ quản lý, ngành sầu riêng cần thay đổi điều gì để giữ được đà tăng trưởng dài hạn, thưa ông?
Đúng là thực tế vừa qua sự tăng trưởng rất nhanh của một số mặt hàng, trong đó có sầu riêng, vừa mang lại cơ hội lớn nhưng cũng bộc lộ không ít rủi ro nếu không được quản lý chặt chẽ. Khi nhu cầu thị trường tăng mạnh, một số địa phương và cơ sở sản xuất đã mở rộng sản lượng nhanh hơn khả năng kiểm soát kỹ thuật, dẫn đến phát sinh các cảnh báo liên quan đến kiểm dịch thực vật, dư lượng và truy xuất nguồn gốc.
Vì vậy, để hướng tới phát triển bền vững, trọng tâm thời gian tới của Cục không chỉ là tiếp tục mở rộng thị trường, mà quan trọng hơn là giữ vững và khai thác hiệu quả các thị trường đã mở. Chúng tôi sẽ chủ động xử lý kịp thời các vướng mắc kỹ thuật phát sinh trong quá trình xuất khẩu, nhằm bảo đảm sản phẩm sầu riêng và các mặt hàng chủ lực duy trì ổn định việc đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu, qua đó bảo vệ uy tín và lợi ích lâu dài của toàn ngành.
Song song với đó, chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật, nhấn mạnh trách nhiệm của người sản xuất đối với sản phẩm do chính mình làm ra, cũng như trách nhiệm chung đối với uy tín ngành hàng. Chỉ khi mỗi khâu trong chuỗi cùng tuân thủ và chia sẻ trách nhiệm, ngành hàng mới có thể phát triển ổn định và bền vững.
Khai thác thị trường theo chiều sâu
Vậy, còn tình trạng mở rộng diện tích theo phong trào ở một số địa phương dẫn đến nguy cơ “được mùa – rớt giá” thì sao, thưa ông?
Khi một mặt hàng nông sản có tín hiệu thị trường tốt, nguy cơ sản xuất theo phong trào là điều rất dễ xảy ra. Nếu không được định hướng và kiểm soát kịp thời, việc mở rộng diện tích và tăng sản lượng nhanh hơn khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật sẽ dẫn đến rủi ro về chất lượng, dư lượng và truy xuất nguồn gốc, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín ngành hàng.
Từ góc độ quản lý nhà nước, chúng tôi cho rằng sản xuất nông sản xuất khẩu phải được đặt trên cơ sở thông tin thị trường, điều kiện sinh thái và năng lực kỹ thuật thực tế, chứ không thể chạy theo tín hiệu giá ngắn hạn. Việc tổ chức sản xuất cần gắn chặt với vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và chuỗi liên kết tiêu thụ rõ ràng.
Thời gian tới, Cục sẽ phối hợp chặt chẽ với hệ thống tham tán, thương vụ, các địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp để tăng cường cung cấp thông tin thị trường, hướng dẫn kỹ thuật và cảnh báo sớm rủi ro. Qua đó giúp người sản xuất chủ động điều chỉnh kế hoạch, tránh phát triển nóng và bảo đảm sự ổn định, bền vững cho ngành hàng.
Một điểm đáng lưu ý là các thị trường đang siết chặt vấn đề an toàn thực phẩm, và gắn chặt với năng lực quản lý chuỗi sản xuất và cung ứng của nước xuất khẩu, vậy việc mở cửa thị trường của nông sản Việt thời gian tới cần thay đổi ra sao, thưa ông?
Mở cửa thị trường vẫn là yêu cầu quan trọng, nhưng sẽ được thực hiện theo hướng có trọng tâm, trọng điểm và phù hợp với năng lực thực tế của từng ngành hàng. Thực tiễn cho thấy, dư địa mở cửa các sản phẩm mới hoàn toàn không còn nhiều như trước, trong khi yêu cầu kỹ thuật của các thị trường ngày càng cao và phức tạp.
Do đó, định hướng của Cục là ưu tiên duy trì và khai thác hiệu quả các thị trường đã mở, đồng thời khai thác thị trường theo chiều sâu thông qua đa dạng hóa giải pháp kỹ thuật như biện pháp xử lý kiểm dịch thực vật trước xuất khẩu, công nhận tương đương hoặc mở rộng phạm vi áp dụng từ các thị trường đã được phê duyệt sang những thị trường tiềm năng. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn, giảm rủi ro và tăng tính linh hoạt trong xuất khẩu.
Bước sang năm 2026, xin ông cho biết, đâu là những nhóm giải pháp Cục ưu tiên để củng cố niềm tin thị trường đối với sầu riêng và các mặt hàng rau quả chủ lực?
Trong thời gian tới, các giải pháp ưu tiên của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ tập trung vào việc củng cố nền tảng kỹ thuật và kỷ luật tuân thủ trong toàn chuỗi sản xuất – xuất khẩu. Trước hết là tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, hướng dẫn kỹ thuật về quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói; tăng cường giám sát, hậu kiểm và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Bên cạnh đó, chúng tôi đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và giám sát tuân thủ, giúp kịp thời phát hiện rủi ro và chủ động xử lý các vướng mắc kỹ thuật. Song song với quản lý, công tác tuyên truyền và tập huấn sẽ tiếp tục được chú trọng, nhấn mạnh rằng mỗi lô hàng xuất khẩu không chỉ là sản phẩm riêng lẻ, mà còn gắn với uy tín của cả ngành hàng và hình ảnh nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.