Google News

Vụ người đàn ông nước ngoài suýt mất trắng nhà cửa, đất đai khi ly hôn vợ trở thành án lệ

TPO - Ông A. (quốc tịch nước ngoài) đã gặp khó, suýt mất trắng tài sản chung là nhà, đất, khi quyết định ly hôn với vợ là người Việt Nam.

Vợ và anh chị đứng tên tài sản chung

TAND Tối cao vừa công bố 10 án lệ mới, trong đó, có án lệ số 82/2025 về xác định tài sản chung của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn.

Theo nội dung vụ án được chọn làm án lệ, ông A. và bà C. kết hôn tại UBND tỉnh Bình Định cũ (nay là tỉnh Gia Lai). Ngày 2/11/2016, ông A. xin ly hôn bà C., họ không có con chung, nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung có mảnh đất 1.288m2 tại tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng), vợ chồng ông A. nhận chuyển nhượng của ông P và bà P1 với giá 600 triệu đồng.

Tuy nhiên, bà C. đã lừa dối ông A. với lý do ông là người nước ngoài, không thể đứng tên nên để bà C. đứng tên, nhưng bà C. lại để cho anh, chị của mình là ông D., bà B. đứng tên với tư cách là người mua đất. Trong khi, trên đất hai vợ chồng bà C. đã xây nhà.

Ngoài thửa đất trên, vợ chồng ông A. còn mua 600m2 đất từ bà N. với giá 280 triệu đồng. Vì hạn chế ngôn ngữ, tin tưởng bà C. và ông là người nước ngoài, không được đứng tên giấy chứng nhận được nên ông A. đã để cho bà C. đứng tên… Nay ông A. đề nghị tòa án chia đôi các tài sản trên với tổng số tiền là 1,63 tỷ đồng. Trái lại, bà C. cho rằng hai người không có tài sản chung.

Theo bà C. các tài sản đất đai mà ông A. nói là tài sản riêng của bà và các anh, chị. Bà cũng không nhận tiền của ông A. để mua đất và xây dựng nhà như ông nói nên không đồng ý với yêu cầu chia đôi.

Còn ông D., bà B. (là anh, chị của bà C) cũng cho rằng đây là tài sản riêng của họ. Trong khi, phía người bán (là ông P., bà P1., bà N.) đều khẳng định đã chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông A. và bà C.

Cuối năm 2017, TAND tỉnh Bình Thuận xét xử đã công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông A. với bà C.

Đồng thời, Tòa cũng chấp nhận yêu cầu chia tài sản của ông A., xác định các thửa đất và căn nhà là tài sản chung, công sức đóng góp của vợ chồng là ngang nhau. Bà C. được quyền sở hữu, quản lý và sử dụng diện tích 1.288m2 đất và căn nhà, có nghĩa vụ hoàn lại cho ông A. số tiền hơn 1,5 tỷ đồng.

Sau bản án sơ thẩm, các bên đều kháng cáo, TAND Cấp cao tại TP HCM xét xử phúc thẩm đã sửa bản án sơ thẩm, vì cho rằng thửa đất không phải tài sản chung.

Tòa án cấp phúc thẩm giao cho bà C. được sử dụng toàn bộ diện tích đất và sở hữu căn nhà. Buộc bà C. trả cho ông A. 30% giá trị quyền sử dụng đất và 20% giá trị nhà.

Không chấp nhận phán quyết, ông A. có đơn đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

screen-shot-2026-02-23-at-183812.png
Ảnh minh họa.

Cách tòa xác định các tài sản chung

Ngày 23/11/2021, Chánh án TAND Tối cao kháng nghị hủy cả hai bản án về phần chia tài sản chung; giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Bình Thuận xét xử lại. Sau đó, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã chấp nhận kháng nghị này.

Theo Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, thửa đất có diện tích 291m2 bà C. cho rằng là tài sản riêng của bà mua từ trước khi kết hôn với ông A., nguồn tiền là của cá nhân bà.

Tuy nhiên, theo xác nhận của người bán là bà N. thì bà chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng ông A. và bà C. Thậm chí, bà N. còn cho rằng do bà C. nói ông A. là người nước ngoài nên không được đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng và cũng không được mua đất tại Việt Nam. Do đó, chỉ có mình bà C. đứng tên tại hợp đồng chuyển nhượng và chính quyền cấp giấy cho mình bà C. là phù hợp với lời khai của ông A. và bà N.

Dù hợp đồng ký ngày 9/7/2013, được ký trước khi ông A. và bà C. đăng ký kết hôn (ngày 6/8/2013) nhưng ngày 16/4/2013, ông A. và bà C. đã có tờ khai đăng ký kết hôn và đã tổ chức lễ cưới vào tháng 7/2013. Do đó, có cơ sở xác định thửa đất này là tài sản chung của ông A. và bà C.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định là tài sản chung của ông A. và bà C. là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm xác định là tài sản riêng của bà C. là không đúng.

Đối với diện tích 1.288m2 đất mà anh chị của bà C. đứng tên, tòa xác định người chuyển nhượng là ông P. và bà P1. chỉ chuyển nhượng đất cho ông A. và bà C.

Ông P. và bà P1. còn cho rằng bà C. nói ông A. là người nước ngoài nên không được mua đất tại Việt Nam vì tại thời điểm này, Luật Đất đai cũng không cho phép người nước ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Lời khai của ông P., bà P1. và ông A. là có cơ sở. Hơn nữa, anh chị của bà C. cũng không sử dụng thửa đất trên.

Như vậy, có cơ sở xác định diện tích đất này là tài sản chung của ông A. và bà C, không phải là tài sản của anh, chị bà C. Tòa án cấp sơ thẩm xác định các thửa đất này là tài sản chung của ông A. và bà C. là đúng. Tại giấy chứng nhận đã đứng tên anh, chị của bà C. nhưng tòa án cấp sơ thẩm không xem xét tính hợp pháp của 2 giấy chứng nhận này là chưa giải quyết triệt để vụ án.

Hội đồng thẩm phán đánh giá tòa cấp phúc thẩm chia tỷ lệ tài sản bà C. hưởng 70%, ông A. hưởng 30% là chưa đảm bảo quyền lợi, không phù hợp với nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; còn tòa án cấp sơ thẩm cho rằng công sức đóng góp đối với quyền sử dụng đất của ông A. và bà C. là ngang nhau nên chia đôi là có căn cứ.

Riêng về giá trị nhà, tòa án cấp phúc thẩm xác định một mình bà C. xây dựng hoàn thiện ngôi nhà nên chia cho ông A. hưởng 20% giá trị ngôi nhà là phù hợp.