“Đầu cơ nghiệp” của những năm gian khó
Giữa trưa nắng, trên tỉnh lộ 948, tiếng xe máy, ô tô vun vút cắt gió trên đường đã trở thành âm thanh quen thuộc với người dân địa phương. Bỗng đâu đó vọng lại tiếng vó ngựa lộc cộc, chậm rãi và lạc nhịp với đời sống hiện đại. Âm thanh không còn phổ biến, nhưng đủ khiến người đi đường ngoái lại, như vừa nghe thấy tiếng vọng về từ quá khứ. Ở vùng Bảy Núi (xã An Cư, An Giang), nghề đánh xe ngựa xuất phát từ cộng đồng người Khmer từ nhiều đời trước, khi xe ngựa là phương tiện chính để chở hàng, đi lại, đặc biệt trên những đoạn đường núi gập ghềnh, khó đi.
Trong sân nhà nhỏ ở xã An Cư, ông Chau Nghĩa (69 tuổi, người Khmer) vừa dắt con ngựa ra khỏi chuồng chuẩn bị cho ngày làm việc mới. Động tác chậm rãi, quen thuộc lặp đi lặp lại mỗi ngày suốt gần đời người. “Giờ vùng này chắc chỉ còn mình tôi nuôi ngựa chở hàng”, ông Nghĩa nói, giọng pha lẫn tự hào và ngậm ngùi. Sinh ra và lớn lên trong gia đình nghèo, tuổi thơ ông Nghĩa gắn với ruộng đồng, chăn nuôi. Sau năm 1975, khi phương tiện cơ giới còn hiếm, con ngựa trở thành tài sản lớn, là “đầu cơ nghiệp” của nhiều hộ dân. Cha ông đi làm ăn xa, để lại cho con chiếc xe và con ngựa làm vốn. Từ đó, cuộc đời ông Nghĩa gắn chặt với vó ngựa.
“Ngựa từng gắn bó với đời sống bà con vùng Bảy Núi, nhưng nay chỉ còn sót lại rất ít. Nếu không vì tình cảm, ký ức nghề cũ, có lẽ xe ngựa đã biến mất hoàn toàn”.Ông Hoàng Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch MTTQ Việt Nam xã An Cư
“Ngày đó, có ngựa là có việc làm, có kế sinh nhai ổn định”, ông Nghĩa nhớ lại. Ai thuê chở gì cũng làm, từ lúa tới phân bón, gỗ, nông sản, vật liệu xây dựng... Có chuyến chỉ vài cây số, có chuyến kéo dài cả chục cây. Mỗi ngày, con ngựa đi không biết bao nhiêu lượt, mồ hôi người và ngựa hòa vào bụi đất đường quê. Những năm còn khỏe, trung bình mỗi ngày ông Nghĩa kiếm được khoảng 100.000 - 200.000 đồng, tùy chuyến hàng. Tháng nào siêng chạy, sau khi trừ chi phí thức ăn, đóng móng, vẫn còn dư vài triệu đồng, khoản thu nhập đủ nuôi gia đình nơi miền biên giới.
Nuôi ngựa không hề nhàn. Ngoài thức ăn, chuồng trại, móng sắt phải thay thường xuyên vì chạy nhiều. “Ngựa chạy liên tục hơn tuần phải đóng lại móng, không ngựa sẽ đau chân, không đi được. Có lúc ngựa chứng, đá hoặc cắn chủ, bán lại tiếc, bỏ cũng không đành”, ông Nghĩa nói, vừa chỉ tay vào vết thương do ngựa cắn. Con ngựa hiện tại ông Nghĩa mua từ Campuchia với giá gần 8 triệu đồng, số tiền lớn với một nông dân thời bấy giờ. Trải qua nhiều năm, ngựa sinh sản, ông từng nuôi vài con, rồi bán dần khi sức yếu, tuổi cao, con cháu đã chuyển đổi nghề khác. Con ngựa còn lại giờ không chỉ phục vụ mưu sinh, còn là một phần ký ức.
Rời sân nhà ông Nghĩa, tiếng vó ngựa lóc cóc vẫn theo chúng tôi ra tỉnh lộ 948. Cách đó không xa, ở bãi đất trống ven đường, ông Chau Can (49 tuổi) đang cho ngựa ăn, kiên nhẫn chờ cuốc xe đầu tiên trong ngày. “Nghề chạy xe ngựa tôi làm cũng 10 năm rồi. Từ vài trăm chiếc xe ngựa thời hoàng kim, toàn xã An Cư ngày nay chắc ngót nghét còn chục hộ nuôi, bến xe ngựa giờ chỉ là bãi đất trống”, ông Can nói, mắt không rời con ngựa đang nhàn nhã đứng nhai cỏ.
Trước khi gắn bó với ngựa, ông Can từng làm đủ nghề mưu sinh ở quê. Đến khoảng 10 năm trước, thấy nhiều đoạn đường nhỏ, hẻm vườn xe cơ giới khó vào, ông quyết định mua ngựa chở thuê. Con ngựa hiện tại theo ông đã hơn hai năm, mua từ Campuchia với giá khoảng 25 triệu đồng. “Giống ngựa gì tôi cũng không rành, chỉ thấy tướng tá tốt, chân khỏe, hiền là mua”, ông Can nói. Hiện ông nuôi hai con ngựa kéo, dự tính khi được giá sẽ bán một con, rồi mua con khác về thay thế, cách xoay vòng vốn của người làm nghề lâu năm.
Công việc của ông Can khá đều đặn. Hàng hóa chủ yếu là gỗ, vật liệu xây dựng, nông sản, phân bón… Những quãng đường ngắn 2 - 3km là chuyện thường ngày, nhưng có chuyến ông chở xa hơn 20km, đi xuyên qua đường nhỏ, đường ruộng, nơi xe tải “bó tay”. “Đi xa vậy phải mất hơn hai tiếng. Ngựa đi từ từ, có nghỉ giữa đường chứ không ép được”, ông Can nói. Đặc biệt, ban đêm vẫn có thể nhận chuyến, bởi ngựa quen đường, không sợ tối. Chính sự linh hoạt này khiến nhiều người dân vẫn tìm đến ông mỗi khi cần chở hàng gấp.
Theo ông Can, huấn luyện ngựa không quá khó, quan trọng là để ngựa quen người, quen đường và quen nhịp làm việc. “Có lúc nó cũng dở chứng, nhưng mình làm riết rồi quen”, ông cười. Mỗi ngày, ngựa có thể chở tối đa khoảng 400kg hàng. Tiền công không tính theo lượt chở, tùy quãng đường, nặng - nhẹ và điều kiện đường sá để ra giá. Trung bình, mỗi ngày hai vợ chồng ông kiếm được khoảng 150.000 - 200.000 đồng. Tháng khá có dư dả, tháng ít cũng đủ ăn. “Nghề này không giàu, nhưng sống được. Quan trọng là đều”, ông Can nói.
Chiều buông xuống, ông Chau Can (xã An Cư, An Giang) dắt ngựa về chuồng, tắm rửa, cho ăn rồi nghỉ ngơi. Tiếng vó ngựa lóc cóc vang lên giữa tỉnh lộ chậm rãi, bền bỉ, lạc nhịp trong dòng xe máy lao nhanh. Giữa nhịp sống hối hả, những chuyến hàng bằng vó ngựa vẫn lặng lẽ lăn bánh chậm nhưng chắc, rẻ nhưng bền, như chính những con người miền biên giới An Giang, ngay dưới chân Thất Sơn, vẫn bám đất, bám nghề, níu giữ một phần ký ức đang dần khuất bóng.
Nghề cũ giữa thời mới
Ông Nguyễn Văn Tiên (66 tuổi), thợ mộc lâu năm ở xã An Cư, là một trong những người thường xuyên thuê xe ngựa chở hàng. Với ông Tiên, lựa chọn này không phải vì hoài cổ, mà bởi… rẻ và tiện. Mỗi tháng, ông phải đưa hàng cho khách ở các xã lân cận, thậm chí sang Tịnh Biên. “Mấy chục năm nay, chở gỗ, chở tủ cho khách thuê xe ngựa vẫn tiện nhất, đường lớn, đường bé, đường nhựa, đường đất, thậm chí đồi núi cũng đi được, rất tiện”, ông nói. Cùng quãng đường, thuê xe ngựa có chở đi chỉ 300.000 đồng, nhưng nếu thuê ô tô tải phải gấp đôi, chưa kể có những đường nhỏ ô tô không đi được. Với ông, xe ngựa không chỉ là phương tiện vận chuyển, mà là “cánh tay nối dài” giúp người thợ mộc duy trì sinh kế giữa lúc chi phí làm ăn ngày càng tăng.
Trao đổi với PV Tiền Phong, ông Hoàng Ngọc Sơn - Phó Chủ tịch MTTQ Việt Nam xã An Cư cho biết, nghề nuôi ngựa kéo xe từng quen thuộc ở địa phương độ hơn 20 năm về trước. Khi kinh tế phát triển, chương trình xây dựng nông thôn mới lan tỏa về mọi ngả đường quê, đường đất được thay cho đường bê tông, đường nhựa, xe máy, xe tải thay dần xe ngựa. “Không còn người thuê thường xuyên, bà con bán ngựa, bán xe, chuyển sang chạy xe ôm, làm thuê hoặc đi làm ăn xa. Số hộ còn giữ xe ngựa giảm rất nhanh, giờ chủ yếu người lớn tuổi còn theo, do không tiện chuyển nghề khác, hoặc duy trì vì đam mê”, ông Sơn nói.