Từ ‘vùng nâu’ đến cực tăng trưởng công nghiệp mới
Không chỉ phục hồi sau đại dịch, Quảng Ninh đang bước vào một chu kỳ tăng trưởng công nghiệp mới với tốc độ “hai con số”, được dẫn dắt bởi sự chuyển dịch chiến lược từ khai thác tài nguyên sang công nghiệp chế biến, chế tạo và tăng trưởng xanh.
Talkshow “Công nghiệp Quảng Ninh tăng tốc mạnh mẽ - Động lực phát triển xanh, bền vững” do Báo Tiền Phong phối hợp UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức đã phác họa rõ nét bức tranh ấy, đồng thời gợi mở những trụ cột phát triển mang tính khác biệt của địa phương từng được coi là “thủ phủ ngành than” của cả nước.
Bà Nguyễn Hoài Thương - Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Quảng Ninh - cho biết, năm 2025 chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của tỉnh ước đạt 11,94%, phản ánh rõ nét sự gia tăng giá trị của sản phẩm công nghiệp.
Bên cạnh các ngành truyền thống như khai khoáng và điện, giai đoạn 2021-2025, Quảng Ninh đã xác định công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực mới. Trong 5 năm, lĩnh vực này thu hút đầu tư tăng khoảng 5 lần so với nhiệm kỳ trước, đóng góp trên 13% GRDP của tỉnh, với nhiều dự án giá trị gia tăng cao như ô tô, năng lượng mặt trời.
Tỉnh cũng đẩy mạnh chuyển đổi công nghệ trong các ngành truyền thống và từng bước chuyển dịch sang năng lượng tái tạo, điện khí, điện gió, điện mặt trời theo định hướng phát triển bền vững và thân thiện môi trường.
Theo lãnh đạo Sở Công Thương Quảng Ninh, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 13,25% GRDP, nhưng đạt tốc độ tăng trưởng lên tới 23,67%, cao gấp hơn hai lần mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp. Đây là con số cho thấy vai trò “đầu kéo” mới của lĩnh vực này trong cơ cấu kinh tế địa phương.
Nhìn rộng hơn, tăng trưởng GRDP năm 2025 không phải kết quả ngẫu nhiên, mà phản ánh quá trình tích lũy đầu tư có chiều sâu suốt nhiều năm qua. Tính lũy kế từ tháng 11/2020 đến tháng 9/2025, tổng vốn đầu tư thu hút vào ngành công nghiệp của Quảng Ninh đạt trên 217.681 tỷ đồng, tương đương hơn 9 tỷ USD, gấp 4,35 lần mục tiêu đặt ra cho cả giai đoạn. Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tới 76,5%, tập trung chủ yếu vào các khu kinh tế, khu công nghiệp với các dự án chế biến, chế tạo quy mô lớn.
Chính nền tảng tích lũy này đã tạo điều kiện để nhiều dự án bước vào giai đoạn vận hành ổn định, mở rộng công suất và phát huy hiệu quả rõ nét trong năm 2025, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Chia sẻ tại talkshow, PGS.TS Trần Đình Thiên - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam - nhấn mạnh, bức tranh công nghiệp Quảng Ninh chỉ có thể được nhìn nhận đầy đủ khi đặt trong tổng thể mô hình phát triển của địa phương.
“Sau giai đoạn COVID-19, Quảng Ninh đã có sự xoay chuyển rất mạnh mẽ. Tỉnh không còn đặt trọng tâm tuyệt đối vào du lịch, mà chuyển sang ưu tiên phát triển công nghiệp để tránh rủi ro, tạo động lực tăng trưởng mới và bền vững hơn”, PGS.TS Trần Đình Thiên phân tích.
Điểm đáng chú ý là Quảng Ninh không đi vào “tầng thấp” của công nghiệp, mà định hướng rõ ràng vào công nghiệp chế biến, chế tạo ở tầng cao hơn, gắn với công nghệ, giá trị gia tăng và tăng trưởng xanh. Đây không chỉ là lựa chọn mang tính địa phương, mà còn là “sứ mệnh quốc gia” mà Trung ương giao cho Quảng Ninh - vừa là cực tăng trưởng mới, vừa phải đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ di sản thiên nhiên.
Quảng Ninh hiện được đánh giá là một trong những địa phương đi đầu trong quá trình chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh”, từ công nghiệp khai khoáng sang công nghiệp chế biến, chế tạo. Dù lĩnh vực này mới chỉ chiếm khoảng 1/3 sản lượng công nghiệp, nhưng tốc độ tăng trưởng lại gấp đôi, thậm chí hơn gấp đôi mức tăng chung của toàn ngành, cho thấy vai trò dẫn dắt và khả năng định vị lại cơ cấu sản phẩm công nghiệp của tỉnh.
Một trong những yếu tố quan trọng giúp Quảng Ninh duy trì đà tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tiếp chính là năng lực điều hành và cải cách thể chế. Trong vòng 5 năm qua, GRDP của tỉnh gần như tăng gấp đôi, đưa Quảng Ninh trở thành một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng được đánh giá là “thần kỳ” trong bối cảnh kinh tế chung còn nhiều biến động.
Không chỉ tăng trưởng nhanh, Quảng Ninh còn nhiều năm liền giữ vị trí dẫn đầu cả nước về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, đây không phải là “danh hiệu”, mà là động lực thu hút đầu tư thực chất, thể hiện tầm nhìn của lãnh đạo tỉnh và mức độ tin cậy của cộng đồng doanh nghiệp đối với môi trường đầu tư tại địa phương.
“Khi doanh nghiệp tin, họ chấm điểm cao cho năng lực cạnh tranh của tỉnh. PCI chính là thước đo của niềm tin ấy”, ông Thiên nhận định.
Tham gia talkshow, ông Trương Mạnh Hùng - Giám đốc Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Quảng Ninh - cho biết, tỉnh xác định rất rõ các trụ cột khác biệt trong thu hút đầu tư, đặc biệt là FDI. Trước hết là nền tảng thể chế và cải cách hành chính. Quảng Ninh nhiều năm liền duy trì vị trí nhóm đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), cùng các chỉ số quản trị, điều hành và môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, ổn định.
“Việc nhất quán xây dựng chính quyền liêm chính, kiến tạo, hành động và phục vụ đã tạo dựng niềm tin vững chắc cho nhà đầu tư, coi Quảng Ninh là điểm đến an toàn, minh bạch và cạnh tranh bình đẳng”, ông Trương Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Đột phá về hạ tầng được xem là lợi thế nổi trội. Quảng Ninh là một trong những địa phương sở hữu hệ thống cao tốc dài và liên hoàn nhất cả nước, cùng cảng biển nước sâu và sân bay quốc tế, tạo ra lợi thế logistics vượt trội, kết nối liên vùng và liên quốc gia thông suốt.
Vị trí địa chính trị - kinh tế đặc biệt, giáp Trung Quốc cả trên bộ lẫn trên biển qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái, đồng thời cận kề các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Hải Phòng giúp Quảng Ninh được Trung ương xác định là một cực tăng trưởng quan trọng phía Bắc.
Đáng chú ý, tỉnh còn được đánh giá cao ở năng lực tổ chức thực thi, với mô hình chính quyền phục vụ, đề cao tinh thần “năm thật”: quy hoạch thật, dự án thật, nhà đầu tư thật, hiệu quả thật và nhân lực thật. Lãnh đạo tỉnh thường xuyên đối thoại, tháo gỡ vướng mắc, cam kết đồng hành cùng doanh nghiệp.
Theo Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2025, GRDP của Quảng Ninh tăng 14,25%. Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 15-17% GRDP, tăng so với giai đoạn trước. Khu vực công nghiệp - xây dựng tiếp tục đóng góp lớn vào tăng trưởng chung, trong đó chế biến, chế tạo giữ vai trò dẫn dắt, từng bước giảm sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, phù hợp với định hướng tái cơ cấu nền kinh tế của tỉnh. Năm 2025 ghi dấu ấn rõ nét khi Quảng Ninh đưa 12 dự án chế biến, chế tạo theo kế hoạch năm vào vận hành, bổ sung năng lực sản xuất mới trong các lĩnh vực điện - điện tử, cơ khí chính xác, công nghiệp hỗ trợ, vật liệu mới. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực như tivi, linh kiện điện tử, xe đạp điện, ô tô, sợi dệt, tấm sàn nhựa… đạt và vượt kế hoạch đề ra, góp phần mở rộng quy mô và giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.
Công nghiệp chế biến, chế tạo: Mũi nhọn mới của Quảng Ninh
Quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 71 của Chính phủ, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 16 nhiệm kỳ 2020-2025, tỉnh Quảng Ninh xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, động lực then chốt để nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo.
Trên cơ sở đó, Quảng Ninh đã tập trung hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự đi vào sản xuất công nghiệp. Tỉnh đã ban hành đồng bộ các chương trình, kế hoạch triển khai Nghị quyết 57, trong đó xác định rõ mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số đóng góp khoảng 30% GRDP, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp TFP đạt trên 55%, coi đây là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng phát triển, trong đó khu vực công nghiệp là trọng tâm triển khai.
Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt thông qua đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ. Bài toán lớn cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và quản trị hiện đại.
Đối với lĩnh vực công nghiệp, tỉnh xác định chuyển đổi số phải đi vào nhà máy, khu công nghiệp và chuỗi cung ứng. Không ngừng số hóa thủ tục hành chính, quản lý, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới dây chuyền tự động hóa, ứng dụng công nghệ như dữ liệu lớn trí tuệ nhân tạo, IOT, nền tảng quản trị thông minh để nâng cao hiệu quả sản xuất, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG.
Đó là những điều kiện quan trọng để Quảng Ninh thu hút các dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và khu vực.
“Có thể khẳng định định hướng phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số của Quảng Ninh không tách rời mục tiêu nâng cao chất lượng công nghiệp mà đã được triển khai đồng bộ, thực chất gắn với yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng và tính bền vững. Với cách tiếp cận này, công nghiệp Quảng Ninh sẽ từng bước chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới”, ông Trương Mạnh Hùng nói.
Trong bức tranh tăng trưởng công nghiệp năm 2025, công nghiệp chế biến, chế tạo nổi lên như minh chứng rõ nét nhất cho sự chuyển mình của Quảng Ninh. Không chỉ tăng trưởng nhanh, lĩnh vực này còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ sang các ngành dịch vụ, logistics, thương mại và thị trường lao động.
Nhiều dự án quy mô lớn trong lĩnh vực điện - điện tử, cơ khí chế tạo, sản xuất - lắp ráp đã đi vào hoạt động ổn định tại các khu công nghiệp trọng điểm. Các dự án này từng bước hình thành chuỗi liên kết với doanh nghiệp vệ tinh, dịch vụ kỹ thuật và logistics, tạo nên hệ sinh thái sản xuất tập trung - điều mà Quảng Ninh trước đây chưa từng có trong giai đoạn phụ thuộc nhiều vào khai khoáng.
Tiêu biểu là Khu công nghiệp Việt Hưng, được xác định là trung tâm công nghiệp hỗ trợ trọng điểm của tỉnh. Tại đây, tổ hợp cơ khí ô tô Thành Công - Việt Hưng với công suất thiết kế khoảng 120.000 xe/năm không chỉ đánh dấu bước tiến mới của ngành cơ khí chế tạo, còn mở ra hướng phát triển sang các lĩnh vực công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao hơn, trong đó có công nghiệp đường sắt trong tương lai.
Điều làm nên sự khác biệt của Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay không chỉ là tốc độ, mà là tư duy phát triển công nghiệp có bản sắc. Thay vì chạy theo quy mô bằng mọi giá, tỉnh lựa chọn tăng trưởng gắn với tái cấu trúc, lấy công nghiệp chế biến, chế tạo làm trụ cột, đồng thời từng bước giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thô.
Theo các chuyên gia, đây chính là cách Quảng Ninh giải bài toán mâu thuẫn nội tại giữa một bên là công nghiệp khai khoáng - ngành kinh tế truyền thống, và bên kia là yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển đô thị, du lịch và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh” vì thế không phải là sự thay thế đơn giản, mà là quá trình tái cấu trúc có chọn lọc, giữ ổn định các ngành truyền thống trong giới hạn cho phép, đồng thời hình thành các trụ cột công nghiệp mới mang tính dài hạn.
Theo bà Lê Hà - Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Ươm tạo FTU, Trường ĐH Ngoại thương - trong chiến lược phát triển công nghiệp của Quảng Ninh, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc phân biệt “ngành cũ” hay “ngành mới”, mà ở mức độ tích hợp đổi mới sáng tạo vào các mô hình tăng trưởng xanh và bền vững.
“Với Quảng Ninh, không nên đặt câu hỏi đây là ngành mới hay ngành truyền thống, mà cần xem xét mức độ tích hợp đổi mới sáng tạo vào các mô hình tăng trưởng xanh. Chính yếu tố này mới quyết định khả năng tạo giá trị gia tăng dài hạn”, bà Lê Hà nhấn mạnh.
Phân tích bức tranh công nghiệp hiện nay, bà Lê Hà cho rằng công nghiệp chế biến, chế tạo đang là ngành mũi nhọn, không chỉ bởi tỷ trọng lớn và tốc độ tăng trưởng cao, mà còn vì đây là không gian chính để triển khai đổi mới sáng tạo theo chiều sâu. Từ thực tiễn phát triển của Quảng Ninh, bà đề xuất ba mũi nhọn chiến lược cần được ưu tiên trong giai đoạn tới.
“Thứ nhất là điện tử, thiết bị và sản xuất thông minh; thứ hai là vật liệu xanh gắn với kinh tế tuần hoàn trong các khu công nghiệp; thứ ba là logistics thông minh gắn với khu kinh tế, khu công nghiệp. Đây đều là những lĩnh vực đang đóng góp tốc độ tăng trưởng rất lớn cho Quảng Ninh”, bà Lê Hà phân tích.
Cụ thể, với điện tử, thiết bị và sản xuất thông minh, trọng tâm đổi mới nằm ở tự động hóa, dữ liệu hóa dây chuyền, quản trị chất lượng số nhằm nâng cao năng suất và khả năng kiểm soát. Với vật liệu xanh - kinh tế tuần hoàn, hướng đi là phát triển vật liệu mới, tái chế - tái sử dụng và mô hình cộng sinh công nghiệp, qua đó giảm tiêu hao tài nguyên và phát thải. Logistics thông minh cần tập trung vào tối ưu luồng hàng, số hóa kho vận, dự báo phân phối theo thời gian thực và giảm phát thải logistics.
Song song với các ngành đang giữ tỷ trọng lớn, bà Lê Hà lưu ý Quảng Ninh cần sớm nhận diện những ngành có quy mô còn nhỏ nhưng tiềm năng trở thành mũi nhọn trong tương lai, như xử lý môi trường, dịch vụ kỹ thuật công nghiệp hay một phần của logistics công nghiệp.
“Đây là những lĩnh vực nếu có mô hình sáng tạo phù hợp, hoàn toàn có thể mở ra nguồn lực tăng trưởng mới, thay vì chỉ tập trung vào các ngành đã có quy mô lớn”, bà Lê Hà nói.
PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng, để công nghiệp thực sự tăng tốc và bền vững, yếu tố then chốt không chỉ là hạ tầng cứng, mà là thể chế kinh tế thị trường hiện đại, đủ minh bạch và tự do để hấp dẫn dòng vốn đầu tư dài hạn.
“Muốn phát triển công nghiệp thì phải đặc biệt chú trọng đến thể chế thị trường. Chỉ khi nào thể chế đủ thông thoáng, minh bạch, thì mới thu hút được vốn đầu tư chất lượng cao”, ông nhấn mạnh.
Trên nền tảng đó, việc thiết kế các khu công nghiệp, cụm công nghiệp của Quảng Ninh phải được đặt ở một tầm khác, không chỉ là nơi bố trí nhà máy, mà là không gian tích hợp sản xuất - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo - đào tạo nhân lực.
Song hành với thể chế, chuyển đổi số được PGS.TS Trần Đình Thiên coi là một mặt trận cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi tư duy cầu thị và cách tiếp cận bài bản.
“Quảng Ninh đã có những chiến lược và chương trình chuyển đổi số, nhưng phải xác định đây là quá trình rất gay gắt. Cần mời chuyên gia hàng đầu để định hình các chương trình chuyển đổi số cho từng ngành, từng lĩnh vực, chứ không thể làm chung chung”, ông nói.
Chuyển đổi số trong công nghiệp không chỉ là số hóa thủ tục, mà phải đi vào quản trị sản xuất, tối ưu chuỗi giá trị, kiểm soát chất lượng và nâng cao năng suất tổng hợp.
Chuyển dịch mô hình từ ‘nâu’ sang ‘xanh: Bài toán khó và quyết tâm chính sách
Trong nhiều thập kỷ, nhắc đến Quảng Ninh là nhắc đến than - điện - công nghiệp khai khoáng, những trụ cột đóng góp lớn cho ngân sách nhưng cũng để lại áp lực nặng nề lên môi trường và không gian phát triển. Bước sang giai đoạn mới, khi yêu cầu về tăng trưởng xanh, phát thải thấp và kinh tế bền vững trở thành xu thế toàn cầu, Quảng Ninh buộc phải đối diện một câu hỏi căn cốt: Làm thế nào để rũ bỏ “di sản nâu” mà không đánh đổi động lực tăng trưởng?
Tại talkshow “Công nghiệp Quảng Ninh tăng tốc mạnh mẽ - Động lực phát triển xanh, bền vững”, các diễn giả thống nhất rằng, chuyển dịch từ “nâu” sang “xanh” không còn là lựa chọn, mà là con đường tất yếu. Vấn đề không nằm ở việc có làm hay không, mà là làm như thế nào để vừa nhanh, vừa chắc, vừa không gây cú sốc cho nền kinh tế địa phương.
Đây là bài toán khó, bởi công nghiệp nâu từng tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động, đóng góp lớn cho GRDP và ngân sách tỉnh. Bất kỳ sự chuyển dịch thiếu tính toán nào cũng có thể kéo theo hệ lụy xã hội.
Điểm khác biệt trong cách tiếp cận của Quảng Ninh là không xem công nghiệp xanh như một khẩu hiệu tuyên truyền, mà từng bước đưa yếu tố xanh vào cấu trúc phát triển công nghiệp. Điều này thể hiện rõ trong quy hoạch khu công nghiệp, lựa chọn dự án đầu tư và định hướng ngành nghề ưu tiên.
Quảng Ninh kiên định không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, coi đây là “lằn ranh đỏ” trong thu hút đầu tư. Những dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao năng lượng lớn, nguy cơ gây ô nhiễm cao đều bị loại từ khâu thẩm định, dù quy mô vốn có thể rất hấp dẫn.
Song song với đó, Quảng Ninh khuyến khích các dự án sản xuất công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp hỗ trợ, tạo giá trị gia tăng lớn nhưng phát thải thấp. Đây là bước chuyển từ tư duy “mở cửa để có vốn” sang “chọn lọc để phát triển bền vững”.
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, Quảng Ninh không chỉ đi đúng hướng, mà còn có đủ điều kiện để tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong quá trình chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh” ở quy mô quốc gia.
“Quảng Ninh vẫn phải đi đầu trong chuyển từ nâu sang xanh. Công nghiệp xanh không chỉ là một lựa chọn phát triển, mà cần được xác lập như bản sắc riêng của tỉnh. Quảng Ninh chính là một tọa độ ưu tiên trong chiến lược phát triển công nghiệp xanh của cả nước”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh.
Theo ông, giá trị cốt lõi tạo nên lợi thế khác biệt của Quảng Ninh nằm ở nền tảng tài nguyên tự nhiên, di sản và không gian phát triển đặc thù, đòi hỏi mô hình tăng trưởng phải đạt “đẳng cấp cao”, thay vì chạy theo mở rộng quy mô bằng mọi giá.
“Tài nguyên của Quảng Ninh quá đẹp, quá đặc biệt, nên không thể chấp nhận một mô hình tăng trưởng công nghiệp gây tổn hại môi trường. Chính yêu cầu bảo vệ di sản thế giới đặt ra mệnh lệnh bắt buộc phải tăng trưởng xanh”, ông phân tích.
Trong bối cảnh đó, công nghiệp xanh - thông minh không chỉ là một định hướng kỹ thuật, mà là chuẩn phát triển mới, buộc mọi quyết sách về thu hút đầu tư, thiết kế khu công nghiệp và lựa chọn ngành nghề phải tuân thủ.
Theo các chuyên gia, việc chuyển đổi năng lượng tại Quảng Ninh cần được thực hiện theo lộ trình, tránh gây gián đoạn nguồn cung và ảnh hưởng tới sản xuất. Song song với việc nâng cao hiệu suất các nhà máy hiện có, tỉnh nghiên cứu đa dạng hóa nguồn năng lượng, khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch trong các khu công nghiệp mới.
Việc yêu cầu các dự án công nghiệp áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng ngay từ khâu thiết kế được xem là giải pháp căn cơ, giúp giảm phát thải dài hạn thay vì chỉ xử lý hậu quả.
Một trong những thách thức lớn nhất của quá trình chuyển dịch từ công nghiệp nâu sang xanh là bài toán lao động. Khi các ngành khai khoáng dần thu hẹp, hàng nghìn lao động đứng trước nguy cơ mất việc hoặc phải chuyển đổi nghề nghiệp.
Quảng Ninh xác định, chuyển dịch xanh phải đi kèm chuyển dịch lao động công bằng. Tỉnh chú trọng đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho người lao động, giúp họ thích ứng với các ngành công nghiệp mới như chế biến, chế tạo, logistics, dịch vụ công nghiệp.
Một trong những thành tựu nổi bật nhất của Quảng Ninh trong năm 2025 là tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước đạt 11,89%. Đây là mức tăng trưởng cao nhất cả nước và cũng là mức cao nhất trong toàn bộ giai đoạn 2021-2025. Quy mô nền kinh tế ước đạt 368.445 tỷ đồng, xếp thứ 7/34 tỉnh, thành phố. GRDP bình quân đầu người ước đạt trên 10.400 USD, gấp 2,08 bình quân cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 4,63%; Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 46,18%; Khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm chiếm 49,19%. Kết quả này cho thấy nền kinh tế của tỉnh tiếp tục duy trì đà phục hồi, tăng tốc mạnh mẽ sau đại dịch, đồng thời phản ánh hiệu quả của các chính sách điều hành linh hoạt, kiên định với mục tiêu phát triển bền vững.
Tăng trưởng song hành với mục tiêu môi trường
Thông điệp xuyên suốt được các diễn giả nhấn mạnh tại talkshow là: Quảng Ninh không chấp nhận đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng ngắn hạn. Trong bối cảnh nhiều địa phương vẫn loay hoay giữa bài toán thu hút đầu tư và bảo vệ môi trường, Quảng Ninh chọn cách đi khó hơn nhưng bền vững hơn.
Ông Trương Mạnh Hùng cho rằng trong những năm gần đây, các khu công nghiệp của Quảng Ninh đang phát triển nhanh kéo theo áp lực rõ rệt về hạ tầng kỹ thuật, môi trường và quản trị vận hành. Để vừa thu hút đầu tư vừa đảm bảo tiêu chuẩn xanh, thông minh, tỉnh đang triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp trọng tâm như sau:
Thứ nhất về đầu tư, chuẩn hóa môi trường như là một điều kiện bắt buộc. Quảng Ninh duy trì 100% các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn xả thải. Tỉnh đồng thời đẩy mạnh nâng cấp môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo hướng tăng công suất, gắn quan trắc tự động liên tục để kiểm soát rủi ro theo dữ liệu. Đây là cách tỉnh đã đi trước một bước để không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng và cũng giúp doanh nghiệp yên tâm vận hành theo chuẩn quốc tế.
Thứ hai, định hình mô hình khu công nghiệp xanh bằng tiêu chuẩn và lộ trình cam kết rõ ràng thay vì chỉ dừng ở mức cam kết. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, toàn bộ các khu công nghiệp đạt chuẩn xanh, vận hành theo mô hình kinh tế tuần hoàn trong sử dụng nước và xử lý chất thải rắn. Xem đây là lợi thế cạnh tranh để thu hút FDI chất lượng cao.
Thứ ba, nâng cao năng lực thông minh trong quản trị khu công nghiệp, gắn cải cách thủ tục với hạ tầng số và dữ liệu. Tỉnh xác định chuyển đổi số chính là động lực tăng trưởng trong giai đoạn 2025-2030, có kế hoạch đầu tư các dự án hạ tầng số dữ liệu và đào tạo nhân lực số. Qua đó hỗ trợ quản lý điều hành giám sát môi trường và phục vụ các doanh nghiệp hiệu quả hơn.
“Nhìn chung, Quảng Ninh không chỉ thu hút đầu tư bằng quỹ đất hay ưu đãi, mà bằng hạ tầng đồng bộ chuẩn môi trường cao, quản trị số. Qua đó, nhằm đảm bảo khu nghiệp phát triển nhanh nhưng bền vững, đáp ứng yêu cầu xanh, thông minh ngày càng khắt khe của các nhà đầu tư”, ông Hùng nhấn mạnh.
Đánh giá về định hướng xây dựng trung tâm công nghiệp xanh - thông minh, PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng lợi thế cạnh tranh cốt lõi của Quảng Ninh nằm ở khả năng kết hợp đồng bộ giữa hạ tầng, thể chế và nhân lực.
“Muốn tăng trưởng cao thì phải đặt ra tiêu chuẩn thu hút đầu tư rõ ràng. Trước hết là hạ tầng thể chế kinh tế thị trường hiện đại - tự do và minh bạch. Thứ hai là hạ tầng công nghiệp. Và thứ ba là nguồn nhân lực cấp cao, gắn với trung tâm R&D, trung tâm đổi mới sáng tạo và đào tạo theo nghĩa thực chiến”, ông nhấn mạnh.
Về dài hạn, ông cho rằng Quảng Ninh cần cách tiếp cận mới về phát triển đô thị và quản trị lãnh thổ, dựa trên cấu trúc hành chính hiện đại, tạo ra một hệ thống đô thị - công nghiệp - dịch vụ liên thông.
“Quảng Ninh cần được thí điểm mô hình tự quyết, tự làm, tự chịu trách nhiệm, tức là được trao quyền chủ động sáng tạo. Khi đó, địa phương mới có thể làm những điều tốt nhất cho chính mình”, PGS.TS Trần Đình Thiên nêu quan điểm.
Theo các chuyên gia, mục tiêu của Quảng Ninh không dừng ở việc trở thành một tỉnh công nghiệp phát triển, mà là địa phương đi trước, tạo hình mẫu về công nghiệp xanh, công nghiệp thông minh và quản trị phát triển hiện đại.
Trong chiến lược phát triển vùng và quốc gia, Quảng Ninh được xác định là một cực tăng trưởng quan trọng của phía Bắc. Tuy nhiên, các nhà quản lý và chuyên gia chỉ ra rằng vai trò này đang được nâng cấp: từ cực tăng trưởng truyền thống sang “tọa độ ưu tiên của công nghiệp xanh”.
Điều này thể hiện rõ trong cách tỉnh lựa chọn các ngành dẫn dắt giai đoạn tới. Thay vì mở rộng công nghiệp theo chiều rộng, Quảng Ninh ưu tiên: Công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao; Logistics thông minh gắn với cảng biển, khu kinh tế; Công nghiệp hỗ trợ, vật liệu mới, vật liệu xanh; Công nghiệp năng lượng mới và các ngành phục vụ chuyển đổi xanh.
Cách tiếp cận này giúp Quảng Ninh vừa giữ được vai trò động lực tăng trưởng, vừa không đi ngược lại cam kết quốc gia về giảm phát thải, tăng trưởng bền vững.
Một điểm nhấn trong phân tích của PGS.TS Trần Đình Thiên là việc Quảng Ninh đang sở hữu những “tọa độ phát triển” đặc biệt, có thể tạo ra đột phá nếu được trao cơ chế phù hợp.
“Quảng Ninh có Cô Tô, Vân Đồn - những đặc khu có thể trở thành tọa độ bùng nổ về du lịch, dịch vụ và cả công nghiệp. Các hình thái công nghiệp mới như đặc khu, khu thương mại tự do, khu kinh tế tích hợp những khu công nghiệp đẳng cấp cao cần được nhìn nhận như động cơ tăng trưởng mới”, ông phân tích.
Ở chiều sâu ngành, ông đánh giá cao việc Quảng Ninh chuyển hướng mạnh sang cơ khí chế tạo công nghệ cao theo hướng sạch, trong đó cơ khí ô tô là ví dụ điển hình, với sản lượng đạt hàng trăm nghìn xe mỗi năm.
Không dừng ở công nghiệp truyền thống, Quảng Ninh còn đang đặt mục tiêu trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa, mở rộng không gian phát triển sang các lĩnh vực có hàm lượng sáng tạo cao, giá trị gia tăng lớn và ít phát thải.
Một nội dung được thảo luận sâu tại talkshow là vai trò của doanh nghiệp nội địa trong hệ sinh thái công nghiệp xanh.
Từ kinh nghiệm quốc tế, bà Lê Hà cho rằng để doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như vật liệu xanh, công nghiệp phụ trợ, logistics thông minh và kinh tế tuần hoàn, Quảng Ninh cần triển khai mô hình ươm tạo chuyên biệt, đặt ngay trong các khu công nghiệp và khu kinh tế.
“Đổi mới sáng tạo phải gắn với đơn đặt hàng thật và chuỗi giá trị thật. Doanh nghiệp nội địa cần được đứng cạnh khách hàng của mình, ngay trong không gian sản xuất”, bà Lê Hà nhấn mạnh.
Theo bà, các trung tâm ươm tạo tại Quảng Yên, Vân Đồn hay Móng Cái không nên chỉ là vườn ươm khởi nghiệp theo nghĩa truyền thống, mà phải trở thành xưởng tăng tốc năng lực cho nhà cung ứng, giúp doanh nghiệp nội địa nhanh chóng đạt chuẩn về công nghệ, chất lượng và quản trị.
Một cấu phần quan trọng của mô hình này là living lab - “phòng thí nghiệm sống”, được triển khai trực tiếp tại nhà máy.
“Living lab cho phép thử nghiệm nhanh các giải pháp như logistics thông minh, số hóa kho vận, tối ưu năng lượng và tái chế tuần hoàn trước khi triển khai ở quy mô chính thức”, bà Lê Hà nói.
Bà đề xuất xây dựng các trung tâm tiêu chuẩn và thử nghiệm dùng chung, bao gồm phòng thí nghiệm vật liệu xanh, đóng gói xanh, đo lường phát thải và đánh giá năng lực doanh nghiệp, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nội địa đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Để vận hành hiệu quả mô hình này, theo bà Lê Hà, Quảng Ninh cần một cơ chế đặc thù theo mô hình “Triple Helix” - liên kết chặt chẽ giữa chính quyền - trường đại học - doanh nghiệp.
“Đây là nền tảng để đổi mới sáng tạo không dừng ở ý tưởng, mà trở thành năng lực sản xuất thực tế, giúp doanh nghiệp nội địa từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghiệp”, bà Lê Hà khẳng định.
Khép lại Talkshow, các diễn giả thống nhất rằng điều làm nên sự khác biệt của công nghiệp Quảng Ninh không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng, mà ở bản sắc phát triển. Đó là sự kiên định với mục tiêu xanh, sự chủ động trong đổi mới thể chế và khả năng kết nối hài hòa giữa công nghiệp - môi trường - xã hội.