Hoạt động vận tải thương mại qua điểm nghẽn hàng hải này gần như đã dừng hẳn kể từ khi Mỹ và Israel tấn công Iran ngày 28/2. Iran tuyên bố sẽ tấn công bất kỳ tàu nào liên quan đến hai nước này hoặc đối tác của họ.
Khoảng 20% nguồn cung dầu mỏ toàn cầu, cùng với lượng tương đương hoặc lớn hơn khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) và phân bón, phải đi qua eo biển hẹp này để tới thị trường thế giới. Việc eo biển Hormuz bị đóng đã khiến giá các loại hàng hóa tăng vọt.
Tổng thống Mỹ Trump thất vọng vì các đồng minh không ủng hộ sáng kiến bảo vệ tàu thuyền qua Eo biển Hormuz
Để giảm bớt áp lực kinh tế, Tổng thống Trump và các quan chức Chính phủ Mỹ cho biết Hải quân Mỹ đang lên kế hoạch hộ tống tàu thương mại qua eo biển. Nhà lãnh đạo Mỹ cũng kêu gọi các đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), thậm chí cả Trung Quốc, đóng góp tàu quân sự cho nhiệm vụ hộ tống.
Tuy nhiên, đến nay chưa có quốc gia nào đưa ra đề nghị hỗ trợ, và các nhà phân tích hải quân cho rằng điều đó cho thấy mức độ rủi ro lớn của nhiệm vụ.
Hoạt động hộ tống rất phức tạp
Các nhiệm vụ hộ tống hải quân rất phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng trên biển và trên không để bảo vệ cả tàu chở dầu, tàu thương mại lẫn tàu chiến hộ tống.
Việc phối hợp mọi thứ trong khu vực mà một chuyên gia gọi là “thung lũng chết” như eo biển Hormuz là một thách thức rất lớn.
Vấn đề đầu tiên là không gian.
Eo biển này chỉ rộng khoảng 16 km tại điểm hẹp nhất. Không gian thực sự có thể đi lại còn ít hơn nữa, đặc biệt đối với những tàu chở dầu cỡ lớn - có chiếc dài hơn 3 sân bóng đá.
Theo bà Jennifer Parker - chuyên gia nghiên cứu hải quân tại UNSW Canberra và cựu sĩ quan hải quân Úc từng phục vụ ở vịnh Ba Tư, điều đó khiến tàu chở dầu và tàu chiến hộ tống có tính cơ động thấp.
Các tàu chiến như tàu khu trục của Hải quân Mỹ cần có không gian để di chuyển xung quanh tàu chở dầu, để có thể nhắm bắn chính xác các mục tiêu đang lao tới như máy bay không người lái trên không và trên biển hoặc tên lửa.
Nhưng các tàu chở dầu khổng lồ có thể tạo ra “điểm mù” với tàu chiến.
Ngoài ra, thời gian phản ứng cũng rất ngắn, vì các loại vũ khí của Iran được bố trí gần bờ eo biển.
“Từ lúc phát hiện mối đe dọa đến lúc phải phản ứng là cực kỳ ngắn”, bà Parker nói.
Các nhà phân tích cho rằng không thể chỉ dùng tàu khu trục cho nhiệm vụ này.
Trực thăng hoặc máy bay tấn công phải bay quanh khu vực để đối phó máy bay không người lái. Máy bay cảnh báo sớm AWACS và máy bay không người lái trinh sát cần theo dõi sâu trong lãnh thổ Iran để phát hiện việc phóng tên lửa.
Trong khi đó, lực lượng Iran có nhiều cách để đe dọa nhiệm vụ hộ tống. Máy bay không người lái và tên lửa Iran có thể được phóng từ xe tải, tàu đánh cá nhỏ, thuyền gỗ truyền thống, thậm chí cả du thuyền dân sự.
Chuyên gia Collin Koh tại Singapore cho biết: “Liệu bạn có thể phá hủy tất cả những phương tiện đó để loại bỏ mối đe dọa không? Theo tôi thì không khả thi lắm”.
Có thể giảm các mối đe dọa nếu dùng không quân tấn công hoặc đổ bộ chiếm lãnh thổ nơi phóng vũ khí, nhưng cách này có thể gây thương vong lớn cho bộ binh Mỹ.
Thiếu tàu chiến
Một vấn đề khác là số lượng tàu chiến. Bà Jennifer Parker cho rằng 1 tàu khu trục Mỹ chỉ có thể hộ tống 1- 2 tàu chở dầu mỗi lần đi qua eo biển.
Báo cáo của hãng phân tích tình báo Lloyd’s List Intelligence ước tính cần 8 -10 tàu khu trục để bảo vệ 5 - 10 tàu thương mại trong mỗi đoàn tàu. Theo tỷ lệ này, việc hộ tống chỉ có thể khôi phục khoảng 10% lưu lượng tàu trước chiến tranh.
Hải quân Mỹ hiện có 73 tàu khu trục lớp Arleigh Burke đang hoạt động. Tuy nhiên, chỉ khoảng 68% tàu sẵn sàng chiến đấu tại một thời điểm, tức khoảng 50 tàu.
Các tàu này lại đang phân tán khắp thế giới.
Nếu cần 10 tàu cho một nhiệm vụ hộ tống, điều đó cho thấy Mỹ sẽ bị kéo căng lực lượng nghiêm trọng nếu duy trì hoạt động lâu dài.
Mối đe doạ thủy lôi
Ngoài ra còn có mối đe dọa từ thủy lôi.
Năm ngoái, Hải quân Mỹ cho ngừng hoạt động 4 tàu quét mìn chuyên dụng từng được đưa đến vịnh Ba Tư. Theo kế hoạch, nhiệm vụ này sẽ do tàu tác chiến ven bờ đảm nhiệm, nhưng trước chiến tranh chỉ có 3 chiếc trong khu vực.
Chuyên gia Carl Schuster cho rằng lý tưởng nhất là 1 - 2 tàu quét mìn đi trước đoàn tàu chở dầu để đảm bảo tuyến đường an toàn.
Iran có thể triển khai nhiều loại thủy lôi: Mìn tiếp xúc có gai, mìn neo đáy biển kích nổ bằng âm thanh hoặc từ trường, mìn có bộ đếm tàu - cho vài tàu đi qua rồi mới nổ.
“Việc phát hiện thủy lôi luôn là một thách thức”, ông Schuster cho biết.
Nhật Bản và Hàn Quốc có thể hỗ trợ tàu quét mìn, nhưng đến nay chưa nước nào cam kết. Và ngay cả khi có, các tàu quét mìn chỉ được vũ trang rất nhẹ, nên cũng cần lực lượng bảo vệ.
Mối đe doạ từ Houthi
Giới phân tích cũng nhắc tới lực lượng Houthi ở Yemen, đồng minh của Iran.
Trong vài năm qua, dù Mỹ và châu Âu đã hộ tống tàu ở Biển Đỏ, Houthi vẫn tấn công tàu thương mại, có lần tên lửa bay sát một tàu khu trục Mỹ chỉ vài giây trước khi trúng mục tiêu.
Theo ông Koh, khi đó Mỹ đã khó đối phó với Houthi. Bây giờ lực lượng của Mỹ phải đối mặt với Iran - một đối thủ lớn hơn nhiều với kho máy bay không người lái và tên lửa khổng lồ.
Giáo sư Alessio Patalano tại King’s College London cho rằng năng lực hải quân của các nước hiện nay không còn mạnh như thập niên 1980, khi quy mô hạm đội nhỏ hơn nhiều, hệ thống hỗ trợ cũng giảm.
Điều đó khiến các chuyên gia nghi ngờ liệu nỗ lực tập thể tại Hormuz có thể thành công hay không.
“Trong thời gian quá dài, chúng ta cho rằng tuyến vận tải biển - mạch máu của nền kinh tế toàn cầu - sẽ không bị chặn. Hoặc nếu có, các nền dân chủ phương Tây sẽ dễ dàng đối phó. Nhưng thực tế không phải như vậy”, GS. Patalano nói.