*Bài viết được đạo diễn Phạm Hoàng Nam đồng ý chia sẻ. Phần tiêu đề được Tiền Phong đặt lại.
Đầu năm mới, biên vài ý nghĩ về nghề nhân chuyện con số 4 ồn ào mấy hôm nay. Có thể chia sẻ này nhiều người cũng đã biết, nhưng cứ kể ra đây để trước hết tự nhắc mình, sau đó là cho ai quan tâm và không ngại đọc.
Từ ngẫu hứng sáng tạo đến bộ máy sản xuất biểu diễn
Có lẽ do cơ duyên và may mắn nên tôi được mời làm đạo diễn những chương trình của nhiều nhạc sĩ gạo cội Việt Nam, trong đó có các nhạc sĩ sáng tác và cả các tên tuổi nhạc sĩ nổi tiếng khác trong làng hòa âm phối khí trong mấy chục năm làm nghề. Đã từng gặp ngoài đời 3 trong số 4 “cánh chim”, rồi dàn dựng 1 chương trình riêng của nhạc sĩ Trần Tiến, 1 chương trình chung của nhạc sĩ Văn Cao - nhạc sĩ Phạm Duy, 2 chương trình riêng của nhạc sĩ Văn Cao, 3 chương trình riêng của nhạc sĩ Phạm Duy và khoảng 5-6 chương trình riêng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn… nên tôi hiểu rằng để có được khối “tài sản” đồ sộ ấy, các nhạc sĩ đã lao động nghệ thuật và ngẫu hứng sáng tạo thế nào trong cuộc đời sáng tác và trải nghiệm sống.
Bên cạnh đó, để đưa được các tác phẩm ấy ra thành các chương trình biểu diễn cho công chúng, các nghệ sĩ và nhà sản xuất đã hợp tác và cống hiến hết mình cho khán giả thông qua một bộ máy sáng tạo và nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp, và đó là một hệ thống phức tạp đan xen với dây chuyền sản xuất khoa học, từ ý tưởng ban đầu cho đến khi đêm diễn kết thúc, thông qua các mối quan hệ quan trọng với các bộ phận.
Với nhà sản xuất, thường thì những dự án lớn và quan trọng, tôi chỉ làm việc với nhà sản xuất “ruột”, tức là họ không chỉ là nhà sản xuất mà còn phải là bạn bè lâu năm, hiểu nhau và cùng chung đam mê, chung tầm nhìn và chung trình độ cảm thụ về âm nhạc. Nhà sản xuất cũng phải là các hãng tên tuổi lâu năm và uy tín trong nghề, uy tín trong xã hội và với các nghệ sĩ. Với các bầu sô mới, nhất là bầu sô tôi chưa làm quen và làm sô thiên về “thương mại”, thì khả năng rủi ro sẽ rất cao cho chương trình nếu xảy ra bất kỳ điều gì mâu thuẫn, nhất là trong quá trình làm việc. Làm showbiz ở ta đâu cũng đòi hỏi quan hệ, mà quan hệ cũng là cái dễ mất đầu tiên chứ không phải tiền bạc.
Với ê-kíp sáng tạo, khi ý tưởng hình thành thì cuộc “đi cà phê” đầu tiên sẽ là giữa nhà sản xuất, đạo diễn, biên tập chương trình và giám đốc âm nhạc. Bộ tứ này trong cuộc họp sẽ quyết định được quy mô, hình thức của chương trình dựa trên không chỉ độ bay bổng “ngẫu hứng” của ý tưởng mà còn từ khả năng thực tế của địa điểm, của ngân sách và đối tượng khán giả. Thường thì bộ tứ này cũng là những người quen thân và hiểu nhau thấu đáo, có khi đọc ý nhau cả khi chưa kịp nói ra.
Giám đốc âm nhạc, nhà sản xuất và đạo diễn dàn dựng, ngoài kinh nghiệm nghề, cũng thường là những người hiểu về sáng tác và cuộc đời của các tác phẩm, tác giả thì chương trình sẽ sâu hơn. Thực ra họ phải là một tổng thể hài hòa của những góc độ chuyên môn khác nhau. Ví dụ, nhạc sĩ nào mà chẳng thích chứng tỏ khả năng chuyên môn và dàn dựng với dàn nhạc giao hưởng hoành tráng, nhưng để phối bài và viết tổng phổ cho khí nhạc thì người có khả năng đếm trên đầu ngón tay.
Một chương trình nhạc thông thường, nhà sản xuất chỉ thuê một giám đốc âm nhạc cùng dàn nhạc điện tử của người ấy. Giám đốc âm nhạc sẽ kiêm luôn phối bài và mời thêm số nhạc công phù hợp với ý tưởng nhưng cũng vừa với kinh phí. Nhà sản xuất cần hiểu điều này thay vì chỉ ham dàn nhạc lớn, dàn giao hưởng chỉ để cho hoành tráng làm màu.
Thời nay, các đêm nhạc hay thích có dàn nhạc “giao hưởng” cho sang và hoành tráng, nếu không hiểu về âm thanh hay làm ẩu, làm gấp thì chỉ có thể là chơi nhép trên nền nhạc thu sẵn hoặc có hình mà không tiếng phục vụ quay hình. Chơi giao hưởng nhạc nhép cũng tệ không kém gì hát nhép, nhưng không phải khán giả nào cũng để ý nghe kỹ về nhạc nền mà phần lớn chú ý đến ca sĩ hát, nhảy múa và các hiệu ứng phụ trợ bằng mắt. Thính giác nay đã bị thị giác lấn át.
Số đông, kể cả các nhà tổ chức đã quen điều này, thậm chí thường lấy phần nhìn, phần hiệu ứng cháy nổ, các con số to và khủng của sân khấu và lượng khán giả... làm tiêu chí đánh giá sự phát triển của “công nghiệp văn hoá”. Rất tội nghiệp cho dàn “giao hưởng” phải lên sân khấu làm diễn viên mà không hợp, cũng chẳng sướng.
Nhà sản xuất thiếu kinh nghiệm, uy tín, ham hoành tráng, cả nể, đội ngũ sáng tạo quá ngẫu hứng, quá bay hoặc thích thể hiện cái tôi của mình… sẽ dẫn đến những yếu tố rủi ro cho chương trình, cả “tiếng” lẫn “miếng”. Vì show ca nhạc bán vé khác hoàn toàn với show sự kiện hay lễ hội, khi kinh phí từ nguồn nhà nước hoặc nguồn kinh phí quảng bá thương hiệu.
Làm văn hóa - ngẫu hứng và công nghiệp
Với định dạng sân khấu và địa điểm, tôi hay chia thể loại chương trình âm nhạc ra thành 3 loại là nhạc cho tai, nhạc cho mắt và nhạc cho tay chân. Với những đêm nhạc có tính chất thính phòng, cổ điển, lãng mạn và hơi hoài niệm thì chỉ không gian trong nhà hát và số lượng khán giả vừa phải sẽ ấm cúng, gần gũi, đặc biệt là với khán giả lớn tuổi, đồng thời âm thanh, ánh sáng cũng dễ xử lý tinh tế hơn.
Với đêm nhạc trẻ “cho tay chân”, lễ hội, festival “cho mắt” thì mới cần không gian rộng ngoài trời, đông người, sân khấu, âm thanh, màn hình hoành tráng.
Trừ khi có tài trợ hoặc nhân dịp kỷ niệm lớn mới nên bố trí dàn nhạc phong cách giao hưởng hoành tráng đông người, còn thì nên gói ghém ở quy mô vừa phải, cân đối giữa hát và nhạc, thường là band điện tử thêm một số cây dàn dây. Sân khấu ham lớn quá sẽ trống trải nếu ít người trên đó, sẽ tốn kém hơn nữa nếu lấp không gian bằng cách thêm ra nhiều cách dàn dựng múa may, hợp xướng đông người và phối khí phức tạp, quy mô, chưa nói càng phối hoành tráng càng phải tập luyện nhiều hơn, mà đôi khi nhạc phẩm của các nhạc sĩ không phải bản nào cũng đòi hỏi sự cầu kỳ. Sân khấu quá lớn, nhất là ở những địa điểm như nhà thi đấu vừa loãng, vừa khó nghe, vừa kém sang cho chương trình dạng này. Sân khấu sang trọng thì thường đẹp ngay từ khu sảnh chờ đến chỗ ngồi.
Với ca sĩ khách mời, thường mỗi chương trình phải cân nhắc kỹ số lượng ca sĩ, nhất là các “sao”, vì càng tên tuổi thì càng đắt, thậm chí có sao còn không có thời gian luyện tập đủ. Chỉ nên tính toán cân đối số lượng ca sĩ, nghệ sĩ theo vài tên tuổi đinh để bán vé, còn lại theo giọng ca và phong cách phù hợp với biên tập hợp lý. Gom toàn tên tuổi nổi tiếng thì chỉ khi có mạnh thường quân tài trợ hay chương trình dạng “cúng cụ”, còn không thì sô dễ gãy. Chưa nói việc này còn có thể “làm hư khán giả”, khi cứ phải đông sao, phải là đại nhạc hội mới đi xem.
Với quy mô dàn dựng, các đêm nhạc dạng nghe quan trọng hơn nhìn, và khán giả lớn tuổi là chính, thì không cần thiết phải nhiều chiêu trò và kỹ xảo. Điều khán giả cần nhất là ca sĩ hát chuẩn, nhạc phối hay, sắp xếp bài và dàn dựng hợp lý, sân khấu hình ảnh tinh tế và tạo hình nghệ thuật gắn với chủ đề.
Với ê kíp kỹ thuật và các nhà cung cấp, sân khấu càng lớn càng cần thời gian sản xuất, lắp đặt. Đèn càng nhiều, màn hình càng lớn càng thêm thời gian lập trình. Chương trình càng dài càng tốn visual minh họa. Nhưng với công nghệ hiện đại, việc lập trình ánh sáng, hình ảnh và hiệu ứng sân khấu có thể làm offline từ trước, rồi đến nơi chỉ hiệu chỉnh. Riêng âm thanh thì cần thời gian set up tại chỗ. Sound check cho dàn nhạc điện tử thường mất nửa buổi, cho dàn nhạc lớn nhiều acoustic và khí nhạc thì mất cả ngày. Vì vậy, càng ham dàn nhạc lớn càng phải tốn tiền và thời gian cho việc set up. Tập trong phòng thu có thể vài tháng nhuần nhuyễn thì ra sân khấu vẫn cần sound check âm thanh rồi tập lại tuyến, tập phối, tập kết nối ra vào. Ngay cả kỹ sư âm thanh có kinh nghiệm set up cho dạng sân khấu phức hợp về acoustic như thế này ở Việt Nam cũng hiếm. Tôi làm chương trình cho nhóm Secret Garden vừa qua có chục nhạc công, họ chơi nhạc với nhau 30 năm rồi và đánh nhuyễn như cháo mà ra sân khấu vẫn cần nguyên một ngày set up âm thanh.
Với tính chủ đề và biên tập, việc có bao nhiêu nhạc sĩ hay ca sĩ tên tuổi cũng chưa quan trọng bằng chủ đề, nhất là khi các nhạc sĩ và bài hát đã quá quen thuộc với khán giả. Các nhạc sĩ cũng viết về các đề tài rất đa dạng, và bản thân họ đã khác nhau về tính cách, phong cách âm nhạc, về thời đại… nên cần tìm được sự kết nối mang tính chủ đề của đêm nhạc làm điểm tựa để kể câu chuyện và tạo hình tượng nghệ thuật. Nếu không, chương trình sẽ dễ bị dàn trải phong cách hoặc ôm đồm, trở thành lẩu thập cẩm. Không phải cứ là các tên tuổi lớn thì đều có thể ghép chung vào một chương trình, và tên chương trình thường đã phải mang tính chủ đề.
Khán giả, phép ứng xử và bài học
Với khán giả, nếu đối tượng của triết học là các khái niệm, đối tượng của khoa học là các hiện tượng, thì đối tượng của nghệ thuật là cảm xúc. Cảm xúc của người thưởng thức nghệ thuật và sự tương tác giữa người sáng tạo và người thụ hưởng tác phẩm là trọng tâm của sự thành công.
Không giống đi chợ mua hàng, trong thị trường nghệ thuật, cũng là bỏ đồng tiền ra, nhưng mua bức tranh, bức tượng hay thậm chí một bản quyền bài nhạc, người mua còn có cảm giác cầm nắm hay sở hữu được một điều gì đó. Còn khi bỏ tiền ra mua vé đi xem một chương trình ca nhạc thì khán giả không có gì nhận về ngoài cảm xúc. Mức độ thành công của một chương trình tỷ lệ thuận với sự thăng hoa cảm xúc của khán giả. Ngược lại, không cần biết ý đồ nghệ thuật hay quy mô dàn dựng ra sao, nếu số đông khán giả không “happy” thì chương trình thất bại.
Khán giả không chỉ đi nghe hay xem ca nhạc mà còn đi gặp gỡ bạn bè, người thân, kỷ niệm. Đi xem ca nhạc còn là một trải nghiệm tương tác xã hội, và tấm vé xem không chỉ là một trao đổi tiền - hàng mang tính vật chất, mà có nhiều ý nghĩa tinh thần trong đó. Tất nhiên rất khó để một chương trình phù hợp với tất cả mọi người, nhưng chính vì vậy mà việc hiểu khán giả giống như hiểu “khách hàng” là thước đo thành công của người nghệ sĩ biểu diễn và các nhà sản xuất - doanh nhân kinh doanh văn hóa, và điều này phải luôn được đặt lên hàng đầu. Nhà sản xuất giỏi là người biết tạo cảm hứng cho nghệ sĩ, để rồi nghệ sĩ sẽ tạo cảm hứng cho khán giả. Tôn trọng khán giả đúng cách không chỉ là cho họ nghe hay xem gì, mà là để họ được nghe và xem với chất lượng cao nhất, xứng đáng với kỳ vọng và tấm vé họ mua.
Người Việt bao đời gắn với cây lúa và ruộng đồng nên quen coi trọng nguồn gốc, cội rễ và sự tình cảm, tình làng nghĩa xóm. Chuyển qua làm ăn cũng hay dựa vào chữ tín, vào quan hệ, nên trong showbiz xưa giờ thường xuề xòa trong thỏa thuận văn bản, hợp đồng. Cách làm văn hóa vì thế cũng mang màu sắc “tiểu nông” bao năm đã quen, kể cả ở một số bầu sô lão luyện trên thị trường. Thậm chí khi việc lỡ đổ bể thì có bầu sô đổ nợ, bán nhà, chây ì thanh toán… người làm đòi tiền không được thì lôi nhau ra thiên hạ, lên mạng xã hội thay vì lặng lẽ ngồi bàn giải pháp trong nội bộ hay dựa vào pháp luật. Và khi đó, cả xã hội biến thành quan tòa mà không có chánh án.
Chương trình concert nhà hát đầu tiên dạng tác giả - tác phẩm tôi làm với nhạc sĩ Trần Tiến năm 2000 mang tên Ngẫu hứng - Trần Tiến. Nhậu với anh nhiều lần, nhiều nơi, lúc nào cũng thấy anh ngẫu hứng hát và cười, bất kể ngồi đâu, kể cả hát những bài buồn nẫu ruột. Vì vậy rất thương và đồng cảm với những giọt nước mắt của anh khi có sân khấu đó rồi mà không được hát. Có lẽ anh là người nhạc sĩ trong “bốn cánh chim” va chạm với “thị trường” nhiều nhất.
Nhạc sĩ Trần Tiến cũng chắc là người duy nhất trong số bốn “cánh chim” từng viết theo đặt hàng vô số bài nhạc cho các địa phương, các tập đoàn và tổng công ty tư nhân trong cả nước, cũng đã từng làm bầu sô dẫn đoàn đi diễn du ca khắp nơi, nên chắc anh không lạ gì sự phức tạp của nghề này. Nhưng lần bể sô này có lẽ là một trải nghiệm khó quên và chưa từng có với người nhạc sĩ từng trải, lão luyện và đầy chất ngẫu hứng ấy. Giọt nước mắt của anh cũng là bài học kinh nghiệm cho nghề nghiệp sáng tạo và tổ chức biểu diễn, giữa cách làm việc ngẫu hứng và khoa học, nhất là trong thời mà “công nghiệp văn hóa” đang là từ khóa nóng hiện nay, khi tác phẩm văn hóa trở thành hàng hóa và những người nghệ sĩ sáng tạo là mắt xích trong bộ máy công nghiệp ấy.
Đưa khái niệm “công nghiệp” vào làm showbiz không phải chuyện câu chữ, mà đòi hỏi sự hiểu biết và thay đổi, trước hết là tư duy hệ thống, sau đó là lộ trình và mô hình được “luật hóa” một cách chuyên nghiệp, bài bản, chứ không thể làm ngẫu hứng và cứ khi có chuyện lại nhờ mạng xã hội giải quyết được, kể cả với nghệ sĩ lẫn nhà sản xuất. Khán giả của “công nghiệp văn hóa” thời nay cũng rất khác xưa.
Và dù “ngẫu hứng” hay “công nghiệp” thì có một điều, dù không thể luật hóa nhưng tối quan trọng: phép ứng xử. Nó cũng là văn hóa và cần có nghệ thuật.
Về tâm linh, số 4 hình như không phải con số may mắn? Nhưng sẽ không là vấn đề lớn nếu ta học hiểu được từ các tiền bối:
Nhạc sĩ Văn Cao:
“Từ đây người biết yêu người
Từ đây người biết thương người”
Nhạc sĩ Phạm Duy:
“Tình yêu đây là khí giới
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người”
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:
“Hãy yêu nhau đi cho ngày quên tháng
Hãy trao cho nhau hạnh phúc lẫn thương đau”
Nhạc sĩ Trần Tiến:
“Hà Nội cái gì cũng rẻ,
chỉ có đắt nhất là tình người thôi".