Không được tạo thêm áp lực
TS. Vũ Minh Đức, Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lí giáo dục (Bộ GD&ĐT) cho biết, Bộ sẽ tiến hành khảo sát để nắm bắt thực trạng năng lực tiếng Anh của đội ngũ nhà giáo nói chung và giáo viên dạy tiếng Anh, dạy các môn học khác bằng tiếng Anh nói riêng. Trên cơ sở đó, Bộ sẽ xác định nhu cầu bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho giáo viên.
Việc khảo sát này nhằm hiện thực hóa đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045”. Bộ GD&ĐT tiến hành khảo sát để xác định những “điểm yếu” về năng lực tiếng Anh của giáo viên, từ đó xây dựng chương trình bồi dưỡng phù hợp.
Bộ cam kết kết quả khảo sát “sẽ bảo mật, không sử dụng để đánh giá, xếp loại hay xét thi đua”. Dự kiến, hoạt động khảo sát sẽ được tổ chức vào tháng 4, sau đó kết quả sẽ được phân tích và phân loại theo các bậc năng lực của giáo viên.
Bồi dưỡng cần được nhìn như quyền được nâng cao năng lực nghề nghiệp, đi kèm thời gian, kinh phí, giảm định mức lao động, chứ không phải “tự học-tự chịu”. Do đó, ngành giáo dục không nên dồn gánh nặng cải cách lên vai những người ở “cuối chuỗi”, những giáo viên đã đứng lớp 15-30 năm.
Tuy nhiên, từ góc nhìn thực tiễn, thông tin này đang tạo ra không ít băn khoăn trong đội ngũ giáo viên. Cô T.B.T, giáo viên dạy tiếng Anh tiểu học tại Ninh Bình thấy khá hoang mang. Hiện nay, chương trình tiếng Anh được triển khai ở ba cấp học với chuẩn đầu ra khác nhau: tiểu học là A1, THCS là A2 và THPT là B1.
Nếu đề khảo sát được xây dựng chung cho cả ba cấp, giáo viên tiểu học sẽ gặp nhiều khó khăn, bởi ở bậc học này, giáo viên chủ yếu tập trung dạy phương pháp, tổ chức hoạt động giáo dục, chưa đi sâu vào các kĩ năng ngôn ngữ như ở THCS và THPT.
Không chỉ vậy, cô T. cho rằng, việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường không chỉ đặt yêu cầu với giáo viên các môn học khác mà ngay cả giáo viên tiếng Anh cũng cần được đào tạo, bồi dưỡng bài bản. Tiếng Anh trong dạy học liên môn gắn với nhiều thuật ngữ chuyên ngành mới, hoàn toàn khác với nội dung tiếng Anh phổ thông mà giáo viên tiểu học đang đảm nhiệm.
Thực tế triển khai ở một số địa phương cũng cho thấy những phản ứng tương tự. Tháng 4/2025, TPHCM tổ chức khảo sát toàn bộ đội ngũ giáo viên đang giảng dạy đã khiến không ít giáo viên hoang mang. Họ chưa được làm rõ mục đích, cách thức cũng như hệ quả của việc khảo sát này.
Những lo ngại đó không phải không có cơ sở nếu nhìn lại bài học từ việc bồi dưỡng, nâng chuẩn giáo viên tiếng Anh giai đoạn triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018, bắt buộc dạy tiếng Anh từ lớp 3. PGS.TS Phạm Thị Hồng Nhung, Hiệu trưởng Trường ĐH Ngoại ngữ (ĐH Huế) chia sẻ thực tế quá trình bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh nhằm nâng chuẩn.
Phần lớn giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng đều ở dưới chuẩn quy định, có người phải mất 7-8 năm mới đạt chuẩn. Đây là một chặng đường đầy áp lực đối với giáo viên.
Theo các chuyên gia, sai lầm lớn nhất của giai đoạn trước là để khảo sát “trượt” sang logic đánh giá - xếp hạng - công khai. Dù nói không dùng để thi đua, nhưng khi kết quả bị gửi về trường, công bố trong tập thể, giáo viên lập tức bị gắn “nhãn mác”.
Lần này, khảo sát phải được thiết kế ẩn danh ở cấp cá nhân, chỉ sử dụng dữ liệu ở cấp hệ thống để xây dựng chương trình bồi dưỡng và không có ngoại lệ. Khảo sát phải phân tầng đối tượng, bám đúng chuẩn đầu ra chương trình đang dạy, nếu không sẽ tạo ra cảm giác bất công và phản kháng ngầm trong đội ngũ.
Ở giai đoạn trước, nhiều giáo viên cảm nhận việc bồi dưỡng như một “cuộc chạy đua sinh tồn”: học hè, học cuối tuần, vừa dạy vừa học để “thoát chuẩn”.
Không nâng chuẩn đồng loạt
PGS.TS Hà Lê Kim Anh, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Ngoại ngữ (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho rằng, chủ trương của Bộ GD&ĐT có thể hiểu là trước mắt áp dụng với giáo viên tiếng Anh, sau đó mở rộng dần sang đội ngũ giáo viên giảng dạy các môn học khác bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải xây dựng một lộ trình phù hợp.
Theo PGS.TS Hà Lê Kim Anh, ưu tiên hàng đầu hiện nay không nên dồn vào việc “nâng chuẩn đồng loạt” đối với giáo viên đang công tác, mà cần tập trung nâng cao năng lực tiếng Anh cho sinh viên sư phạm - lực lượng sẽ gia nhập ngành giáo dục trong vài năm tới.
“Nên tập trung vào nhóm đối tượng này thay vì đặt yêu cầu quá cao với giáo viên hiện nay”, bà Kim Anh nhấn mạnh. Với đội ngũ giáo viên đang giảng dạy, yêu cầu về năng lực tiếng Anh là cần thiết, nhưng không nên áp dụng đồng loạt và quá khắt khe, bởi rất dễ phát sinh những hệ quả không mong muốn.
Để nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh trong giai đoạn tới, PGS.TS Hà Lê Kim Anh đề xuất hai giải pháp. Thứ nhất là rà soát, nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Anh trong các trường sư phạm, bảo đảm chuẩn đầu ra ngoại ngữ của sinh viên.
Đặc biệt, với các chương trình đào tạo giáo viên có định hướng dạy học bằng tiếng Anh, chuẩn đầu ra cần được nâng lên, chẳng hạn đạt mức B2, đồng thời phải có các chương trình học chuyên môn bằng tiếng Anh như mô hình sư phạm Toán - tiếng Anh, Vật lí - tiếng Anh.
Giải pháp thứ hai là việc đánh giá năng lực tiếng Anh của giáo viên vẫn cần được thực hiện, nhưng theo hướng khu trú, có chọn lọc, không triển khai đồng loạt và không mang tính “dàn hàng ngang”.
Theo bà Kim Anh, không nhất thiết tất cả giáo viên trong một tổ chuyên môn đều phải dạy được môn học bằng tiếng Anh; chỉ cần một số giáo viên có năng lực thật sự tốt về cả chuyên môn lẫn ngoại ngữ.
Bên cạnh đó, PGS.TS Hà Lê Kim Anh lưu ý, thời gian qua, khi tiếng Anh trở thành môn học bắt buộc từ năm lớp 3, nhiều địa phương đã rơi vào tình trạng thiếu giáo viên tiếng Anh.
Vì vậy, để triển khai đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, Bộ GD&ĐT cần tăng chỉ tiêu đào tạo sư phạm tiếng Anh hoặc có cơ chế để sinh viên ngành ngôn ngữ Anh tham gia giảng dạy. Các ngành sư phạm khác cũng cần tăng số tín chỉ tiếng Anh và đổi mới cách tổ chức đào tạo để sinh viên có thể sử dụng tiếng Anh thành thạo.
PGS.TS Hà Lê Kim Anh cho rằng, thay vì yêu cầu giáo viên các môn học khác phải đạt năng lực ngoại ngữ như giáo viên tiếng Anh, cần có các chương trình tập huấn về phương pháp lồng ghép tiếng Anh vào bài giảng. Cách làm này vừa bảo đảm chất lượng chuyên môn, vừa tạo môi trường sử dụng tiếng Anh cho học sinh, đồng thời tránh việc áp đặt một chuẩn năng lực ngoại ngữ cứng nhắc cho mọi môn học.