Một năm trước đó, ông đã đàm phán thành công việc mua Alaska từ Nga với giá 7,2 triệu USD. Nếu thương vụ Alaska không bị gọi là “sự điên rồ”, rất có thể ông Seward đã thực hiện được mong muốn bổ sung Greenland (và cả Iceland) vào lãnh thổ Mỹ.
Năm 1867, ông Seward chỉ đạo tiến hành một cuộc khảo sát chi tiết về hòn đảo phủ băng này, khi đó thuộc quyền quản lý của Đan Mạch. Báo cáo được công bố năm 1868 đã mô tả Greenland như một vùng đất giàu tài nguyên.
“Greenland có nhiều cá voi, hải mã, hải cẩu và cá mập; cá tuyết, cá hồi, cá trích, cáo, sói, tuần lộc, gấu, cùng vô số loài chim. Than đá tốt được tìm thấy ở nhiều nơi dọc bờ biển phía tây, kéo dài rất xa về phía bắc, khai thác rẻ và gần các cảng thuận tiện”, ông Seward viết trong bản tóm lược.
Cũng giống Alaska, ông Seward quảng bá Greenland như một vùng đất có nguồn tài nguyên thiên nhiên gần như vô tận, đặc biệt là than đá và một loại khoáng sản gọi là cryolite, đủ để giúp Mỹ “chỉ huy thương mại của thế giới”.
Tuy nhiên, đến năm 1868, thương vụ mua Alaska bị báo chí chế giễu dữ dội với những cái tên như “Sự điên rồ của Seward”, “Tủ đông của Seward” hay “Vườn gấu Bắc cực của Andrew Johnson”. Quốc hội và công chúng Mỹ không còn hứng thú với những vùng đất băng giá khác, khiến kế hoạch mua Greenland của ông Seward cuối cùng tan biến.
Đến đầu thế kỷ XX lại manh nha một kế hoạch khác nhằm đưa Greenland vào tay Mỹ. Đề xuất, do Đại sứ Mỹ tại Đan Mạch khởi xướng, không phải là mua Greenland, mà là giành được hòn đảo thông qua một thỏa thuận hoán đổi lãnh thổ ba bên phức tạp.
Ngày 20/9/1910, Đại sứ Maurice Egan gửi thư cho Bộ Ngoại giao Mỹ, trong đó phác thảo kế hoạch trao đổi đất đai. Khi đó, Đan Mạch vẫn cay đắng vì mất vùng lãnh thổ giá trị Schleswig-Holstein nằm giữa Đan Mạch và Đức. Trong các cuộc trao đổi với lãnh đạo Đan Mạch, Đại sứ Egan nhận ra một con đường tiềm năng để Đan Mạch giành lại Schleswig-Holstein, vùng đất họ đã mất vào tay Đức năm 1864.
Kế hoạch của ông là: Đan Mạch nhượng Greenland cho Mỹ; đổi lại Mỹ chuyển cho Đan Mạch một cụm đảo ở Philippines để Đan Mạch chuyển các đảo này cho Đức - khi đó đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở phương Đông. Đổi lại, Đức trao trả Schleswig-Holstein cho Đan Mạch.
Đại sứ Egan gọi ý tưởng của ông là “đề xuất táo bạo” và dường như Chính phủ Mỹ cũng đồng tình. Tuy nhiên sau đó, không có hành động nào được thực hiện để triển khai phương án hoán đổi Greenland, dù nó có thể đã mở đường cho việc Mỹ mua Quần đảo Virgin từ Đan Mạch năm 1917.
Như tàu sân bay cố định
Mỹ tiến gần nhất tới đề nghị chính thức nhằm mua Greenland từ Đan Mạch là vào năm 1946, ngay sau Thế chiến II. Trong chiến tranh, hơn 10.000 máy bay của phe Đồng minh đã hạ cánh xuống Greenland để tiếp nhiên liệu, trước khi thực hiện các phi vụ ném bom vào Đức.
Lầu Năm Góc coi Greenland như tàu sân bay cố định lớn nhất thế giới. Máy bay không thể bay thẳng qua Đại Tây Dương, có những điểm trung chuyển như Greenland và Iceland là yếu tố sống còn.
Khi Thế chiến II bùng nổ, Đan Mạch tuyên bố trung lập, nhưng bị Đức xâm lược năm 1940 và rơi vào sự chiếm đóng của Đức Quốc xã. Do Đan Mạch vẫn quản lý Greenland, Mỹ lo ngại Đức sẽ tiếp tục chiếm Greenland, biến nơi đây thành một căn cứ hoạt động ở Bắc Mỹ.
Năm 1941, Ngoại trưởng Mỹ ký “Hiệp ước Phòng thủ Greenland” với Đại sứ Đan Mạch tại Washington. Thỏa thuận này giao cho Mỹ trách nhiệm bảo vệ Greenland trong thời chiến, đồng thời cho phép quân đội Mỹ xây dựng mọi cơ sở cần thiết để máy bay có thể hạ cánh.
Greenland chứng tỏ giá trị chiến lược lớn trong Thế chiến II đến mức tầng lớp lãnh đạo cao nhất của Mỹ tỏ ra rất quan tâm tới việc mua lại hòn đảo từ Đan Mạch. Năm 1946, một đặc phái viên Bộ Ngoại giao Mỹ tại châu Âu là William Trimble đề xuất trả cho Đan Mạch 100 triệu USD bằng vàng để đổi lấy toàn bộ Greenland.
Đề nghị này khiến Đan Mạch sốc và phẫn nộ.
Ngoại trưởng Đan Mạch Gustav Rasmussen hồi đó nói với Đại sứ Mỹ tại Copenhagen: “Dù chúng tôi mang ơn nước Mỹ rất nhiều, tôi không cho rằng chúng tôi nợ họ cả hòn đảo Greenland”.
Những năm Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô đã đặt Greenland vào vị trí trung điểm về địa lý giữa hai cường quốc hạt nhân.
“Nếu có cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba, trung tâm chiến lược của nó sẽ là Bắc cực”, tướng H.H. “Hap” Arnold tuyên bố khi đó.
Thay vì rời khỏi Greenland sau khi Thế chiến II kết thúc, Mỹ ký một hiệp ước mới với Đan Mạch năm 1951, trao cho quân đội Mỹ quyền sử dụng Greenland làm căn cứ cho các hoạt động ở Bắc cực.
Theo dự án bí mật mang mật danh “Blue Jay”, Mỹ xây dựng một căn cứ không quân khổng lồ ở bờ tây bắc Greenland. Việc xây dựng căn cứ không quân Thule trong giai đoạn 1951–1953 được so sánh với kênh đào Panama về mức độ khó khăn và phức tạp, đòi hỏi 12.000 công nhân và vận chuyển 300.000 tấn hàng hóa.
Ở đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh, căn cứ Thule từng có tới 10.000 binh sĩ Mỹ đồn trú. Căn cứ này cho phép Mỹ phản ứng nhanh trước các mối đe dọa hạt nhân từ Liên Xô, bởi các máy bay ném bom Mỹ xuất phát từ Thule có thể tấn công các mục tiêu như Leningrad và Mátxcơva chỉ sau vài giờ.
Mỹ thậm chí còn thử nghiệm xây dựng cơ sở quân sự bên dưới lớp băng Greenland, bắt đầu với một tiền đồn cách căn cứ Thule khoảng 150 dặm, mang tên Trại Century.
Trại Century là một thành phố chạy bằng năng lượng hạt nhân nằm dưới lớp băng, có cả sân bowling, nhà nguyện, nhà ăn và thư viện.
Trại Century là minh chứng khái niệm cho một kế hoạch còn tham vọng hơn mang tên “Dự án Giun đất”. Theo đó, quân đội Mỹ muốn xây dựng một mạng lưới đường sắt dưới lớp băng Greenland để di chuyển các tên lửa hạt nhân có khả năng vươn tới lãnh thổ Liên Xô. Dự án này không bao giờ được hoàn thành.
Theo báo cáo được Bộ Quốc phòng Mỹ gửi Tổng thống Dwight Eisenhower, Lầu Năm Góc vẫn rất quan tâm tới việc mua Greenland cho đến tận năm 1955, dù không có đề nghị chính thức nào được đưa ra.
Đan Mạch trao quyền tự trị cho Greenland vào năm 1979, theo đó Greenland vận hành như một thực thể có chủ quyền, trong khi Đan Mạch vẫn phụ trách quốc phòng và đối ngoại. Mỹ tiếp tục duy trì hiện diện quân sự tại Greenland, dù căn cứ không quân Thule đã được chuyển giao cho Lực lượng Không gian Mỹ từ năm 2020 và sau đó đổi tên thành căn cứ không gian Pituffik.