Con ngựa đắt giá nhất Việt Nam, được coi là bảo vật quốc gia

Con ngựa có tên Gióng là tác phẩm sơn mài của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm, từng được bảo hiểm tới một triệu USD khi mang đi triển lãm tại Anh, được công nhận là bảo vật quốc gia năm 2017. Giấu trong nó là mật mã Đông Sơn bí ẩn, cho đến nay giới nghiên cứu vẫn chưa thôi tìm tòi về những giá trị ẩn sâu trong bố cục, họa tiết và cả màu sắc đặc biệt của con ngựa 8 chân này.

Bức tranh bước ra từ triển lãm

Trong câu chuyện với họa sĩ Thu Giang - vợ họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm - chúng tôi được biết vào năm 1990, tại Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc lần thứ 14, bức Gióng của Nguyễn Tư Nghiêm được trao giải Nhất. Ngay sau đó Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam mua lại tác phẩm để lưu giữ.

Đó là bức tranh sơn mài lớn, vẽ hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa bay về trời. Con ngựa trong tranh không giống bất kỳ con ngựa nào trong đời sống thường ngày. Nó có tám chân, thân hình uốn lượn vừa thực vừa ảo, vừa mạnh mẽ vừa bay bổng.

Nguyễn Tư Nghiêm đã khéo léo "phủ" lên mình Gióng những họa tiết trang trí và khí giới đặc trưng của văn hóa Đông Sơn, tạo nên một biểu tượng vừa uy nghiêm, vừa mang hơi thở nghìn năm của lịch sử.

Nhiều năm sau, khi tác phẩm được mang đi triển lãm ở nước ngoài, phía bảo hiểm định giá mức đền bù lên tới một triệu USD, một con số hiếm hoi đối với mỹ thuật Việt Nam.

Năm 2017 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận bức Gióng (1990) là bảo vật quốc gia. Từ đó “con ngựa tám chân” của Nguyễn Tư Nghiêm chính thức bước vào danh sách những di sản nghệ thuật quan trọng nhất của đất nước.

Một bức tranh ngựa của Nguyễn Tư Nghiêm năm 1990.

PGS. TS Trang Thanh Hiền nhận định: “Tác phẩm đánh dấu sự cách tân của nghệ thuật sơn mài Việt Nam và là hình mẫu để các thế hệ sau học tập”. Bức tranh kết hợp trang trí dân gian với lập thể hiện đại, tạo nên hình thức độc đáo, giàu sức biểu đạt.

Họa sĩ Lương Xuân Đoàn đánh giá: “Nguyễn Tư Nghiêm không chép lại con ngựa ngoài đời mà thổi hồn cho nó như bay múa, đưa Thánh Gióng về trời”. Thánh Gióng trong tranh không chỉ là nhân vật lịch sử hay truyền thuyết. Đó là biểu tượng của khí thế, hào khí, tinh thần chống ngoại xâm của người Việt.

Theo phân tích của nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Yến, bức tranh đặt Thánh Gióng trong không gian mang tinh thần Đông Sơn, ở đó thần thoại và hiện đại song hành. Hướng nhìn của nhân vật trong tranh cũng được tính toán kỹ. Nhân vật quay về bên phải tạo cảm giác an toàn, bình yên. Hướng ngược lại thường gợi sự bất trắc. “Đó là một dạng từ vựng thị giác trong ngôn ngữ hội họa”, bà nói.

Họa sĩ sống trong căn phòng 10 m²

Để hiểu bức tranh Gióng, theo bà Thu Giang cần quay lại với cuộc đời của Nguyễn Tư Nghiêm. Những năm 1970, khi tên tuổi đã thuộc nhóm “tứ trụ” nổi tiếng Nghiêm - Liên - Sáng - Phái, ông vẫn sống một mình trong căn phòng chỉ khoảng 10 m2 ở số 65 Nguyễn Thái Học, Hà Nội.

Căn phòng ấy chật chội, đầy giá vẽ, màu sơn, tượng cổ, đồ gốm, mảnh gỗ, những vật dụng ông sưu tầm từ đình chùa, làng quê. Không gian sống và làm việc gần như hòa làm một.

Bà Thu Giang (giữa) cho biết sinh thời phần lớn thời gian Nguyễn Tư Nghiêm dành để vẽ, đọc, suy ngẫm, và… đi bộ sang Bảo tàng Mỹ thuật gần nhà.

Ông không thích ồn ào, ít giao tiếp, chỉ thân với vài người bạn tri kỷ. Phần lớn thời gian, ông vẽ, đọc, suy ngẫm, và đi bộ sang Bảo tàng Mỹ thuật gần nhà.

Ái nữ của nhà văn Nguyễn Tuân nhớ lại: “Ông Nghiêm dành nhiều thời gian trong thời kỳ đỉnh cao sáng tác lủi thủi một mình đến bảo tàng để nghiên cứu, chiêm nghiệm từng tác phẩm cổ đại trưng bày tại đây”. Những chuyến đi bộ lặng lẽ ấy chính là một phần quan trọng trong hành trình sáng tạo của ông.

Năm 1972 Viện Mỹ thuật, Mỹ nghệ tổ chức triển lãm về điêu khắc gỗ đình làng từ thế kỷ XVII. Lần trưng bày này tạo nên một bước ngoặt với Nguyễn Tư Nghiêm. Lần đầu ông nhìn thấy một cách hệ thống vẻ đẹp của nghệ thuật dân gian - những bức chạm mộc mạc, phóng khoáng, vừa linh thiêng vừa đời thường.

Một số tác phẩm trong loạt tranh chủ đề Gióng của họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm sáng tác các năm 1976, 1978, 1982.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hải Yến nhận định: “Nguyễn Tư Nghiêm đã tìm ra vẻ đẹp từ truyền thống Việt Nam. Cuộc triển lãm năm 1972 đã tạo nên bước ngoặt quan trọng trong các sáng tác của ông”.

Từ đó ông bắt đầu đi sâu vào các đề tài dân tộc: Thánh Gióng, điệu múa cổ, 12 con giáp, truyện Kiều, trò chơi trẻ em. Những phác thảo ban đầu dần phát triển thành các loạt tranh lớn, trong đó đề tài Gióng giữ vai trò trung tâm.

Ngựa Gióng (Nguyễn Tư Nghiêm, bột màu,1974).

Con ngựa tám chân không phải sản phẩm của trí tưởng tượng ngẫu hứng. Nó bắt nguồn từ điêu khắc đình làng, nơi nghệ nhân thường phóng đại, cách điệu các đường chạm để tạo nhịp điệu chuyển động. Trong đình làng, tính thiêng và tính đời thường hòa lẫn cảnh sinh hoạt, cảnh vui đùa, cảnh tắm giặt, chọc ghẹo nhau đều xuất hiện bên cạnh hình tượng thần linh.

Họa sĩ Lương Xuân Đoàn - từng có nhiều thời gian được làm việc, tiếp xúc với danh họa Nguyễn Tư Nghiêm - chia sẻ với Tiền Phong: “Hồi nhỏ ở làng gọi ông là 'cậu Nghiêm nhỏ'. Ông thích nghịch đất, nặn con giống. Niềm vui trẻ con ấy theo ông suốt đời. Sau này ông vẽ cả một loạt tranh con giống, điệu múa cổ, trẻ em chơi đùa như một cách trở về tuổi thơ. Gióng, Kiều, 12 con giáp, điệu múa đều bắt nguồn từ ký ức làng quê. Tài năng của ông không giống ai, không theo trào lưu, không chạy theo thị hiếu. Ông đi con đường riêng, chậm rãi, bền bỉ”.

Trước khi đến với Gióng, Nguyễn Tư Nghiêm từng vẽ hiện thực khá nhiều. Nhưng ông sớm nhận ra nếu chỉ dừng lại ở việc vẽ cho giống thực, nghệ thuật sẽ nhanh chóng cạn kiệt. Ông chọn con đường khó hơn - trừu tượng hóa đề tài dân tộc.

Trong những bức Gióng đầu tiên, ông còn chú ý nhiều đến cơ bắp, dáng vóc, biểu cảm. Nhưng càng về sau, ông càng giản lược hình thể, chuyển sang dùng mảng khối, hoa văn, nhịp điệu.

Sơn mài Thánh Gióng (Nguyễn Tư Nghiêm).

Ông khai thác họa tiết Đông Sơn, đường nét điêu khắc đình làng, cách tạo hình dân gian, để xây dựng một ngôn ngữ riêng. Suốt hơn 25 năm, Nguyễn Tư Nghiêm gần như không rời bỏ hình tượng Thánh Gióng. Mỗi bức tranh là một lần thử nghiệm mới. Ngày nay, bức Gióng (1990) được bảo quản cẩn thận tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.