DIỄN GIẢ THAM GIA TỌA ĐÀM
1. TS. BS Dương Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế
2. Ths. Trần Thị Vân Ngọc, Phó Chánh Văn phòng Cục quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế
3. Ông Hoàng Đức Nam, Phó Trưởng Ban Công tác Đoàn, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
4. Bà Nguyễn Quỳnh Liên - đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, nguyên Trưởng Ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam
5. Ông Nguyễn Chí Nhân, Tổng Thư ký Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam
6. Ông Lê Thành Hưng - Trưởng Phòng Tiêu chuẩn nông nghiệp thực phẩm, Viện Tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ
Phát biểu kết luận tọa đàm, Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong Nguyễn Ngọc Tiến cho rằng, qua gần 3 giờ thảo luận thẳng thắn, trách nhiệm và tâm huyết, các đại biểu, chuyên gia cùng thống nhất một mục tiêu cốt lõi: hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá để bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Theo ông Nguyễn Ngọc Tiến, Bộ Y tế đã chủ động xây dựng các tiêu chuẩn, quy định liên quan, với nhiều nội dung được đánh giá chặt chẽ, thể hiện rõ định hướng ưu tiên sức khỏe cộng đồng.
“Mục tiêu cao nhất của việc hoàn thiện các quy định về phòng, chống tác hại của thuốc lá vẫn là bảo vệ sức khỏe nhân dân”, Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong nhấn mạnh.
Một vấn đề nổi bật được nhiều đại biểu, chuyên gia đề cập là pháp luật cần có độ bao phủ và khả năng thích ứng với những thay đổi trong tương lai, nhất là khi công nghệ và các sản phẩm thuốc lá mới liên tục xuất hiện.
Theo ông Tiến, nếu chỉ xây dựng quy định để xử lý những sản phẩm đang tồn tại, luật có thể nhanh chóng phát sinh khoảng trống khi thị trường xuất hiện những hình thức mới.
Không để giới trẻ trở thành người hút thuốc mới
Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong cho rằng tỷ lệ hút thuốc tại Việt Nam vẫn ở mức cao, đặt ra yêu cầu tiếp tục kéo giảm số người sử dụng thuốc lá trong thời gian tới.
Trong đó, một trọng tâm được các đại biểu nhấn mạnh là hạn chế khả năng tiếp cận thuốc lá của giới trẻ. Các quy định về thông tin, tuyên truyền, quảng bá và trưng bày sản phẩm cần được thiết kế để không tạo điều kiện cho thanh thiếu niên dễ dàng tiếp cận hoặc bị thu hút.
“Mục tiêu của chúng ta không chỉ dừng lại ở việc giảm tác hại đối với những người đang sử dụng thuốc lá, mà quan trọng hơn là phải ngăn ngừa nguy cơ phát sinh thêm những người sử dụng mới, đặc biệt là trong thế hệ trẻ”, ông Nguyễn Ngọc Tiến nói.
Luật phải khoa học và khả thi
Bên cạnh mục tiêu bảo vệ sức khỏe, ông Tiến cho rằng các quy định cần phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội, có cơ sở khoa học và đặc biệt có tính khả thi khi triển khai.
Từ thuật ngữ, cách phân loại sản phẩm đến các quy định quản lý cụ thể đều cần được nghiên cứu kỹ, dựa trên bằng chứng khoa học. Đây là cơ sở để khi luật được ban hành vừa bảo đảm tính khoa học, vừa có thể thực thi hiệu quả trong thực tế.
Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong Nguyễn Ngọc Tiến trân trọng cảm ơn các lãnh đạo, đại biểu Quốc hội, chuyên gia, đại diện hiệp hội, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan đã tham dự, đóng góp nhiều ý kiến thiết thực, trách nhiệm tại tọa đàm.
Theo ông Hoàng Đức Nam, Phó Trưởng Ban Công tác Đoàn, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, để luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá thực sự đi vào cuộc sống, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ngăn thuốc lá thế hệ mới tiếp cận thanh thiếu nhi, đặc biệt trên môi trường mạng.
Ông cho rằng không gian mạng đang xuất hiện nhiều hình thức quảng cáo trá hình, khiến thanh thiếu nhi dễ dàng tiếp cận thuốc lá thế hệ mới. Không chỉ sản phẩm, các nội dung bàn luận, chia sẻ, quảng bá về việc sử dụng cũng xuất hiện ngày càng nhiều.
“Đây đều là những luồng thông tin độc hại, không nên để thanh thiếu nhi nhìn thấy hoặc tiếp cận được trên môi trường số hằng ngày”, ông Hoàng Đức Nam nhấn mạnh.
Lấp khoảng trống quản lý trên nền tảng xuyên biên giới
Theo ông Nam, một trong những thách thức lớn hiện nay là kiểm soát quảng bá thuốc lá thế hệ mới trên các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới.
Với doanh nghiệp, thương hiệu hoặc công ty truyền thông hoạt động chính thức tại Việt Nam, cơ quan chức năng có nhiều công cụ pháp lý để kiểm soát. Tuy nhiên, các nền tảng xuyên biên giới không đặt máy chủ tại Việt Nam lại khó quản lý hơn, trong khi đây là nơi giới trẻ dành nhiều thời gian mỗi ngày.
“Chúng ta phải có một giải pháp quản lý mạnh mẽ và toàn diện hơn đối với các hoạt động quảng bá thuốc lá thế hệ mới trên môi trường số”, ông Nam đề xuất.
Bên cạnh kiểm soát pháp lý, ông cho rằng giáo dục và truyền thông phải trở thành một phần không thể tách rời trong chính sách bảo vệ thanh thiếu nhi.
Trung ương Đoàn sẽ tiếp tục tuyên truyền tác hại của thuốc lá, hướng tới xây dựng môi trường sinh hoạt, học tập và hoạt động thanh niên không khói thuốc.
Đặc biệt, ông Nam muốn tạo một thông điệp nhận diện mạnh mẽ:
“Hễ đã khoác lên mình chiếc áo xanh tình nguyện thì dứt khoát không sử dụng thuốc lá”, ông nói.
Theo ông, nỗ lực của tổ chức Đoàn sẽ không đủ nếu thiếu sự phối hợp của nhà trường, gia đình, ngành y tế và các tổ chức xã hội.
Không thể chờ đến khi tỷ lệ sử dụng tăng mới hành động
Về lâu dài, ông Nam đề xuất thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên, liên tục giữa các lực lượng chức năng để chủ động nhận diện và xử lý nguy cơ.
“Chúng ta tuyệt đối không thể chọn cách tiếp cận thụ động, chờ đến khi có số liệu cho thấy tỷ lệ thanh thiếu nhi sử dụng thuốc lá thế hệ mới gia tăng rồi mới vội vàng phối hợp hành động”, ông Nam nhấn mạnh.
Theo ông, phòng ngừa từ sớm, kiểm soát không gian mạng, giáo dục và phối hợp liên ngành cần được triển khai đồng thời để không tạo khoảng trống cho thuốc lá thế hệ mới len sâu vào môi trường sống của giới trẻ.
Theo TS.BS Dương Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), ngành sản xuất thuốc lá cần thay đổi theo hướng tăng hàm lượng công nghệ, giảm nicotine và kiểm soát tốt hơn các chất có nguy cơ gây hại.
Ông cho rằng, về nguyên tắc, những doanh nghiệp đã được cấp phép vẫn được hoạt động trong thời hạn giấy phép. Tuy nhiên, xu hướng chung của ngành thuốc lá trong nước và thế giới cần chuyển dịch theo hướng giảm tác hại đối với sức khỏe.
“Chúng ta đưa hàm lượng công nghệ nhiều hơn vào thuốc lá để giảm tỷ lệ nicotine về mức thấp nhất. Nhà sản xuất cần tạo ra sản phẩm lành mạnh cho con người”, TS.BS Dương Huy Lương nói.
Theo ông, một số doanh nghiệp sản xuất thuốc lá mà ông từng tiếp xúc cho biết đã nghiên cứu giảm mức độ độc hại và mong muốn đưa sản phẩm vào thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, với thuốc lá điện tử, việc thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật có thể dẫn đến tình trạng quản lý không chặt chẽ.
Đáng lưu ý, một số sản phẩm có thể chứa những thành phần chưa được kiểm soát đầy đủ, tiềm ẩn nguy cơ đối với người sử dụng.
“Thuốc lá điện tử chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật sẽ thả nổi. Thuốc lá điện tử có một số chất không kiểm soát được”, ông Lương cảnh báo.
Theo chuyên gia, cùng với hoàn thiện hành lang pháp lý, việc xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu kiểm soát thành phần sản phẩm là cần thiết để hạn chế nguy cơ đối với sức khỏe người sử dụng.
Theo bà Nguyễn Quỳnh Liên, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, khi đưa các quy định cấm thuốc lá mới vào luật, cần làm rõ phạm vi cấm đối với hoạt động sản xuất, đặc biệt là trường hợp sản xuất tại Việt Nam nhưng chỉ để xuất khẩu.
Bà Liên cho rằng đây là nhóm sản phẩm không chỉ liên quan đến người tiêu dùng trong nước mà còn gắn với chuỗi sản xuất, cung ứng và thương mại toàn cầu. Vì vậy, quy định trong Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá phải được đặt trong mối quan hệ với pháp luật về đầu tư, sản xuất và thương mại.
“Khi đã đưa vào luật thì phải xác định rõ đây là lĩnh vực cấm sản xuất hay sản xuất có điều kiện”, bà Nguyễn Quỳnh Liên đặt vấn đề.
Theo bà, cần phân biệt rõ sản phẩm sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam với trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đặt nhà máy tại Việt Nam nhưng chỉ sản xuất để xuất khẩu.
“Chúng ta có cho phép sản xuất, kinh doanh loại hàng hóa đó hay không? Đây không chỉ là vấn đề thuộc phạm vi của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá mà còn liên quan đến pháp luật về đầu tư, sản xuất và thương mại”, bà Liên nói.
Không để “thuốc lá khác” thành khoảng trống quản lý
Đối với khái niệm “thuốc lá khác” trong dự thảo, bà Liên cho rằng cách gọi này hướng tới những sản phẩm mới có thể xuất hiện trong tương lai, bởi lĩnh vực này thay đổi rất nhanh theo khoa học công nghệ, thị trường và thị hiếu.
Tuy nhiên, quy định cần đạt được hai yêu cầu: đủ bao quát để không bỏ lọt sản phẩm mới nhưng đủ rõ để cơ quan quản lý có căn cứ thực thi.
Bà Liên cũng đề nghị làm rõ cách quản lý đối với những sản phẩm được giới thiệu là có khả năng thay thế thuốc lá truyền thống, chẳng hạn sản phẩm dạng ngậm hoặc các sản phẩm tương tự.
Theo đó, pháp luật cần trả lời cụ thể các vấn đề: sản phẩm có được phép sản xuất, lưu hành hay không; tiêu chuẩn chất lượng và kiểm định thế nào; sản phẩm nhập khẩu được kiểm soát ra sao.
“Cách quy định phải đủ bao quát nhưng cũng phải rõ ràng để có cơ sở quản lý”, bà Liên nhấn mạnh.
Theo TS.BS Dương Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), lần sửa Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá cần xây dựng một khung pháp lý có tính bao quát và dự báo, thay vì chỉ “điểm tên” những sản phẩm đang tồn tại.
Ông cho biết trước đây pháp luật chủ yếu tập trung vào thuốc lá điếu truyền thống, thuốc lào. Nhưng cùng với sự phát triển của công nghệ, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và nhiều dạng sản phẩm mới liên tục xuất hiện.
“Pháp luật không thể chỉ chạy theo từng sản phẩm cụ thể. Nếu hôm nay chúng ta cấm một loại, ngày mai lại xuất hiện một loại khác có bản chất, tác hại tương tự nhưng tên gọi và hình thức hoàn toàn khác, thì chúng ta lại phải sửa luật”, TS.BS Dương Huy Lương nói.
Theo ông, nếu luật năm 2026 chỉ quy định cụ thể về những sản phẩm đang có trên thị trường, vài năm tới khi xuất hiện sản phẩm mới, nguy cơ pháp luật lại đi sau thực tiễn là rất lớn.
Đừng để công nghệ “đi trước” pháp luật
TS.BS Dương Huy Lương dẫn bài học từ lĩnh vực phòng, chống ma túy. Nếu pháp luật chỉ tập trung vào từng chất gây nghiện cụ thể, sự xuất hiện liên tục của các chất ma túy tổng hợp mới sẽ khiến quy định khó bao quát.
Theo ông, thuốc lá cũng đang đứng trước thách thức tương tự khi công nghệ và hình thức sản phẩm thay đổi nhanh.
Vì vậy, dự thảo luật cần có “độ mở” nhất định, để những sản phẩm mới dù thay đổi về công nghệ, hình thức hay tên gọi nhưng có bản chất và nguy cơ tương tự vẫn nằm trong phạm vi điều chỉnh.
“Không chỉ quản lý những sản phẩm chúng ta đang nhìn thấy hôm nay, mà còn phải có một ‘độ mở’ nhất định để những sản phẩm mới, dù thay đổi về công nghệ, hình thức hay tên gọi, nhưng có bản chất và nguy cơ tương tự, vẫn nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật”, ông Lương nhấn mạnh.
Theo ông, cuộc chạy đua giữa công nghệ và quản lý sẽ không dừng lại. Nếu luật chỉ giải quyết những gì đang tồn tại, nguy cơ nhanh chóng lạc hậu là rất lớn. Ngược lại, một khung pháp lý có khả năng dự liệu những biến đổi trong tương lai sẽ giúp luật có sức sống lâu dài hơn, hạn chế phải sửa đổi mỗi khi xuất hiện một sản phẩm thuốc lá mới.
Nếu chỉ nhìn dưới góc độ y tế thì có thể coi đây là một loại sản phẩm thay thế, khi nhà sản xuất cung ứng vào thị trường thì phải đạt tiêu chuẩn. Nhưng vấn đề là sự biến thiên của các sản phẩm này rất nhanh. Ngay cả những sản phẩm thuốc lá nung nóng, thuốc lá điện tử của các nhà sản xuất lớn trên thế giới, được sản xuất và xuất khẩu với tiêu chuẩn kiểm soát chặt chẽ, vẫn có thể bị làm giả, pha trộn hoặc biến dạng vì mục tiêu lợi nhuận.
Vậy đối với những sản phẩm thay thế thuốc lá trong tương lai, chúng ta sẽ kiểm soát thế nào về sản xuất, lưu thông, mua bán, sử dụng và quảng cáo? Mục tiêu là giúp người dùng tiến dần tới thay thế thuốc lá truyền thống hay có thực sự hướng tới việc cai nghiện? Đây là những vấn đề đang đặt ra đối với ngành y tế.
Ngành y tế cũng phải phối hợp chặt chẽ với ngành sản xuất và quản lý thị trường. Bộ Công Thương quản lý từ sản xuất đến lưu thông hàng hóa, còn ngành y tế phải kiểm soát dưới góc độ tác động của sản phẩm tới sức khỏe. Dù chỉ một khái niệm xuất hiện trong luật cũng có thể kéo theo nhiều vấn đề pháp lý cần được giải quyết.
Chúng ta mong muốn xây dựng một đạo luật tiệm cận các quy định của thế giới, đặt ưu tiên cao nhất là bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, thế hệ trẻ và xã hội. Nhưng đồng thời đây cũng là vấn đề của sản xuất, tiêu dùng, kinh tế và xã hội, đòi hỏi phải hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và các thành phần khác.
Do đó, Bộ Y tế cần có đầy đủ dữ liệu và phối hợp rất chặt chẽ với các bộ, ngành để tạo ra hành lang, khung pháp lý phù hợp, không chỉ phục vụ mục tiêu phòng, chống tác hại của thuốc lá mà còn bảo đảm các ngành, lĩnh vực khác không bị ách tắc bởi những quy định của luật.
Theo TS.BS Dương Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), mục tiêu của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá không phải là “chống thuốc lá” một cách cực đoan, mà là phòng ngừa, kiểm soát những tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người.
Ông cho rằng cách tiếp cận này cũng tương tự Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia. Các sản phẩm này vẫn tồn tại trong đời sống xã hội, nhưng khi tác hại đe dọa sức khỏe cộng đồng, Nhà nước cần có biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt, thậm chí cấm đối với những sản phẩm, hành vi cần thiết.
“Mục tiêu tối thượng của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá là tập trung phòng ngừa và ngăn chặn các tác hại do thuốc lá gây ra đối với sức khỏe con người”, TS.BS Dương Huy Lương nhấn mạnh.
Theo ông, Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận về những nỗ lực phòng, chống tác hại của thuốc lá. Tuy nhiên, quá trình hoàn thiện pháp luật vẫn phải đối mặt với những xung đột lợi ích giữa nhà sản xuất, phân phối, quảng cáo và mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Đối với ngành y tế, ông Lương khẳng định lợi ích sức khỏe của người dân phải được đặt lên trên hết, bất kể áp lực hay khó khăn trong thực tế.
Thuốc lá cũng đã “4.0 hóa”
Theo TS.BS Dương Huy Lương, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đang làm thay đổi cách thuốc lá tiếp cận người dùng. Nếu điện thoại thông minh và các nền tảng số đã len sâu vào đời sống, các sản phẩm thuốc lá cũng nhanh chóng “điện tử hóa”, đặc biệt tìm đường tiếp cận giới trẻ và học sinh.
“Khi thực tế cuộc sống thay đổi, hệ thống pháp luật bắt buộc phải sửa đổi để theo kịp thời đại”, ông Lương nói.
Vì vậy, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá cũng cần được cập nhật để bao quát và kiểm soát hiệu quả các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới trong môi trường số.
Không thể nói kiểm soát độ tuổi là bất khả thi
Trước ý kiến cho rằng việc kiểm soát độ tuổi mua thuốc lá khó khả thi, ông Lương cho rằng quy định giới hạn độ tuổi là hoàn toàn đúng đắn, vấn đề là phải tổ chức thực hiện nghiêm túc và kết hợp truyền thông hiệu quả.
Ông dẫn ví dụ tại các rạp chiếu phim, khi những bộ phim giới hạn độ tuổi như T13 được kiểm soát bằng căn cước, nhân viên có thể từ chối người chưa đủ tuổi nếu không đáp ứng điều kiện.
Theo ông, kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy các quy định về độ tuổi và thời gian bán rượu, bia có thể được thực thi nghiêm nếu chế tài đủ sức răn đe và người kinh doanh ý thức rõ trách nhiệm.
“Nếu chúng ta thực thi nghiêm túc kết hợp với truyền thông tốt, những việc tưởng chừng khó khăn nhất vẫn có thể hoàn thành”, TS.BS Dương Huy Lương nhấn mạnh.
Theo bà Nguyễn Quỳnh Liên, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, lần sửa luật này cần phân định rõ sản phẩm được phép sử dụng và sản phẩm bị cấm hoàn toàn, trong đó khái niệm về thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng phải đủ rõ để cơ quan chức năng có thể nhận diện và xử lý thống nhất.
Bà Liên cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu cách định nghĩa, trong đó đặt ra câu hỏi nên liệt kê tên sản phẩm hay mô tả các yếu tố cấu thành.
“Các khái niệm về thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng cần được quy định rõ ràng để tạo ranh giới và có cơ sở nhận diện cụ thể”, bà Nguyễn Quỳnh Liên nhấn mạnh.
Theo bà, khái niệm do cơ quan chuyên ngành xây dựng không chỉ phải bao quát những sản phẩm đang tồn tại mà còn cần có tính dự báo, bởi công nghệ và hình thức sản phẩm thay đổi rất nhanh, trong khi những sản phẩm mới có thể tiếp tục xuất hiện hoặc du nhập vào Việt Nam.
Do đó, quy định nếu chỉ “đóng khung” những sản phẩm đã biết có nguy cơ nhanh chóng lạc hậu, tạo khoảng trống trong quản lý.
Không đánh đổi giá trị kinh tế lấy lợi ích cộng đồng
Bà Liên cho rằng các biện pháp quản lý cần gắn với toàn bộ quá trình sản xuất và lưu hành. Đây là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện nên phải quy định rõ chủ thể được làm gì, không được làm gì và điều kiện nào phải đáp ứng.
Trong bối cảnh giao dịch điện tử phát triển, việc mua bán, tìm kiếm thuốc lá trên môi trường mạng ngày càng dễ dàng. Vì vậy, pháp luật cần quy định cụ thể về quảng cáo, lưu hành và kiểm soát thuốc lá mới trên không gian mạng.
“Không đánh đổi giá trị kinh tế lấy giá trị cộng đồng”, bà Liên nói, đồng thời cho rằng việc quản lý phải đặt sức khỏe cộng đồng làm trọng tâm.
Bà cũng đề nghị dự thảo làm rõ cơ chế quản lý đối với các sản phẩm thay thế thuốc lá, từ việc có được phép lưu hành, sản xuất, nhập khẩu hay không đến phương thức kiểm soát.
Hướng tới xã hội không khói thuốc
Theo bà Liên, chính sách cũng cần tính đến tác động đối với môi trường, người hút thuốc thụ động, đặc biệt là trẻ em và phụ nữ; đồng thời tăng cường kiểm soát việc sử dụng thuốc lá tại nơi công cộng, nhất là trường học và bệnh viện.
Việt Nam đang hướng tới mục tiêu xã hội không khói thuốc, thậm chí có thể tiến tới cấm thuốc lá hoàn toàn đối với các thế hệ tương lai. Tuy nhiên, trước mắt chưa thể thực hiện ngay việc cấm hoàn toàn thuốc lá truyền thống.
Vì vậy, theo bà, cần đồng thời triển khai các biện pháp kiểm soát tác hại, nâng cao nhận thức và cung cấp đầy đủ thông tin để người tiêu dùng có cơ sở đưa ra lựa chọn.
ThS. Trần Thị Vân Ngọc, Phó Chánh Văn phòng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết trong quá trình hoàn thiện dự thảo, Bộ Y tế đã tiếp thu ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và góp ý của Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để thống nhất cách hiểu về các loại thuốc lá.
Theo đó, dự thảo kế thừa khái niệm “thuốc lá” trong luật hiện hành, đồng thời bổ sung các nhóm sản phẩm mới gồm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và thuốc lá khác. Cách gọi “thuốc lá mới khác” được điều chỉnh thành “thuốc lá khác” nhằm tránh thuật ngữ nhanh lỗi thời khi luật được áp dụng trong nhiều năm.
Các khái niệm về thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, thiết bị điện tử và thuốc lá đặc chế được thống nhất với Nghị định 371/2025/NĐ-CP, qua đó tạo cơ sở để các lực lượng chức năng áp dụng pháp luật đồng bộ.
Không chỉ cấm sản phẩm hoàn chỉnh
Một trong những vấn đề được Bộ Y tế đặc biệt lưu ý là thực tế lực lượng chức năng nhiều khi không thu giữ được sản phẩm hoàn chỉnh, mà chỉ phát hiện linh kiện, bộ phận rời hoặc dung dịch dùng để lắp ráp. Trong khi đó, các sản phẩm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng có thể được lắp ráp tương đối dễ dàng.
“Nếu chỉ cấm sản phẩm hoàn chỉnh thì chưa đủ để ngăn chặn việc sản xuất, kinh doanh và sử dụng”, bà Trần Thị Vân Ngọc cho biết.
Vì vậy, dự thảo bổ sung quy định kiểm soát cả linh kiện, bộ phận rời có liên quan. Các hoạt động như quá cảnh, tạm nhập - tái xuất, chuyển khẩu cũng được nghiên cứu, bổ sung quy định để tránh khoảng trống khi phát sinh tình huống thực tế.
Bộ Y tế đồng thời tiếp thu ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ để loại trừ các sản phẩm phục vụ nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, kiểm nghiệm, giám định theo quy định pháp luật.
Với sản phẩm chứa nicotine, việc cấm cũng không được áp dụng máy móc. Những sản phẩm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để phục vụ cai nghiện thuốc lá, nghiên cứu khoa học hoặc mục đích hợp pháp khác vẫn được loại trừ.
“Các sản phẩm nicotine dùng để cai nghiện, như miếng ngậm nicotine, không thuộc diện cấm nếu được sử dụng đúng mục đích và đáp ứng quy định pháp luật”, bà Ngọc nói.
Không thể chỉ chờ bệnh viện xử lý hậu quả
Theo bà Ngọc, quan điểm xuyên suốt của chính sách là phòng ngừa tác hại của thuốc lá, đặc biệt với những sản phẩm mới chứa nicotine và tiềm ẩn nguy cơ đối với sức khỏe.
Bác sĩ Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai, cũng cung cấp nhiều thông tin thực tiễn cho quá trình xây dựng chính sách. Trước khi Nghị quyết 173 được ban hành, Trung tâm Chống độc từng tiếp nhận nhiều trường hợp ngộ độc liên quan thuốc lá điện tử và các sản phẩm trá hình.
“Không thể chỉ trông chờ vào việc bệnh viện xử lý hậu quả trong khi những sản phẩm có nguy cơ gây hại vẫn được lưu hành trên thị trường”, bà Ngọc dẫn lại quan điểm của các chuyên gia y tế.
Theo Bộ Y tế, Việt Nam hiện còn hạn chế về năng lực xét nghiệm, xác định đầy đủ thành phần và nồng độ các chất trong các sản phẩm này. Do đó, kiểm soát từ nguồn, ngăn chặn sản phẩm lưu hành trên thị trường được xem là giải pháp cần thiết.
Có thể dùng hình ảnh, video làm căn cứ xử phạt
Về việc kiểm tra, xử phạt, bà Ngọc cho biết tổ soạn thảo đã rà soát Luật Xử lý vi phạm hành chính và các quy định liên quan. Với hành vi quảng cáo trái phép, quảng cáo trên không gian mạng, trách nhiệm của người quảng cáo, người nổi tiếng và các chủ thể liên quan đã được pháp luật quy định; vấn đề còn lại là tổ chức thực thi hiệu quả.
Theo bà, thực tế xử lý vi phạm thời gian qua cho thấy hình ảnh, video có thể được sử dụng làm căn cứ xử phạt. Cách làm này có thể nghiên cứu để áp dụng trong kiểm tra, xử lý hành vi bán, trưng bày thuốc lá trái quy định.
Đối với điểm bán thuốc lá, pháp luật hiện hành yêu cầu cơ sở phải treo biển thông báo cấm người dưới 18 tuổi mua thuốc lá. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc cơ sở được công khai trưng bày hoặc quảng cáo sản phẩm, thương hiệu thuốc lá.
“Chúng tôi đã phải nghiên cứu rất nhiều tình huống có thể phát sinh trong thực tế, đặt ra câu hỏi nếu quy định như thế này thì người ta sẽ tìm cách thực hiện ra sao, từ đó tiếp tục hoàn thiện quy định”, bà Ngọc nói.
Theo bà, mục tiêu cuối cùng của dự thảo là bảo vệ những người chưa hút thuốc, trẻ em và những người đang có nhu cầu cai nghiện, đồng thời vẫn dành ngoại lệ hợp lý cho nghiên cứu khoa học, kiểm nghiệm, giám định và các sản phẩm hỗ trợ cai nghiện được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Theo bà Nguyễn Quỳnh Liên, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, khi đã xác định cấm hoàn toàn thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, luật cần quy định thật rõ sản phẩm nào thuộc diện cấm, phạm vi cấm đến đâu và cơ chế kiểm soát như thế nào.
Bà Liên cho rằng, hiệu quả thực thi phải là yêu cầu hàng đầu khi xây dựng chính sách. Một quy định dù tốt nhưng thiếu tính khả thi sẽ khó đạt mục tiêu, thậm chí trở thành quy định xa rời thực tế.
Theo bà, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá không cấm hoàn toàn thuốc lá mà xác định những sản phẩm được phép lưu hành, đồng thời đặt ra các biện pháp kiểm soát tác hại. Vì vậy, khi Nghị quyết 173 đã xác định cấm hoàn toàn hai nhóm sản phẩm, luật phải tiếp tục làm rõ đó là những sản phẩm nào, đặc điểm ra sao.
“Khi đã cấm hoàn toàn, pháp luật phải quy định dứt khoát, không để xảy ra cách hiểu khác nhau”, bà Nguyễn Quỳnh Liên nhấn mạnh.
Theo bà, đây không chỉ là câu chuyện sử dụng sản phẩm mà liên quan toàn bộ chuỗi từ sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, lưu thông đến tiêu dùng. Pháp luật phải trả lời rõ doanh nghiệp trong nước có được sản xuất, kinh doanh hay không; hàng hóa nhập khẩu được xử lý thế nào và nếu đã cấm thì phải có biện pháp ngăn chặn sản phẩm xuất hiện trên thị trường.
Luật không thể “chạy sau” công nghệ
Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay, theo bà Liên, là xác định thế nào là thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các sản phẩm thuốc lá thế hệ mới. Các sản phẩm này thay đổi nhanh theo công nghệ, thị trường và thị hiếu người dùng.
“Nếu luật không quy định đủ cụ thể nhưng cũng không có tính dự báo thì pháp luật sẽ luôn đi sau thực tiễn”, bà Liên nói.
Do đó, khi quy định cấm hoàn toàn, cần kiểm soát từ sản xuất, lưu hành đến tiêu dùng; đồng thời xác định rõ phạm vi sản phẩm, thiết bị, linh kiện liên quan để tránh cách hiểu khác nhau giữa doanh nghiệp và cơ quan thực thi.
Với những sản phẩm được phép lưu hành, việc quản lý cũng cần bao phủ toàn bộ chuỗi, từ chất lượng, sản xuất, lưu thông, quảng cáo, tiếp cận đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.
Bà Liên đồng thời cho rằng cần chú trọng nhóm chưa sử dụng thuốc lá, giúp họ nhận diện đầy đủ tác hại và có thông tin để tự quyết định, thay vì chỉ tập trung vào những người đã sử dụng hoặc nghiện.
Không để doanh nghiệp “vướng” khi sản xuất để xuất khẩu
Một vấn đề khác cần được tính đến là nhiều quốc gia vẫn cho phép thuốc lá mới lưu hành có điều kiện. Vì vậy, nếu doanh nghiệp Việt Nam sản xuất để xuất khẩu, gia công hoặc tham gia chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp nước ngoài, pháp luật cũng cần quy định rõ.
“Khi quy định pháp luật đủ rõ ràng, mạnh mẽ, công khai, minh bạch và phù hợp thực tiễn Việt Nam thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân mới có cơ sở thực hiện và chính sách mới đạt hiệu quả thực chất”, bà Liên nhấn mạnh.
Theo ông Nguyễn Chí Nhân, Tổng Thư ký Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam, quy định về trưng bày thuốc lá cần được thiết kế theo hướng vừa đạt mục tiêu quản lý, vừa phù hợp thực tế điểm bán và khả năng kiểm tra, giám sát.
Ông Nhân cho rằng, với hàng trăm nghìn điểm bán lẻ trên cả nước, phần lớn là cửa hàng nhỏ, việc cấm trưng bày cần tính đến điều kiện thực tế. Nhiều điểm bán không có tủ trưng bày mà chỉ để vài bao thuốc trong rổ hoặc khay nhỏ để phục vụ giao dịch.
“Nếu quy định cho phép chỉ để một bao thuốc nhằm phục vụ giao dịch, theo tôi, điều đó sẽ phù hợp với thực tế của phần lớn điểm bán”, ông Nguyễn Chí Nhân nói.
Theo ông, cách này vừa hạn chế việc trưng bày mang tính quảng cáo, vừa giúp cơ quan quản lý không phải huy động lực lượng lớn để kiểm tra từng điểm bán. Người bán cũng không phải thay đổi cơ sở vật chất hoặc phát sinh thêm nhiều chi phí.
Trong trường hợp yêu cầu che sản phẩm, các điểm bán có thể sử dụng vải hoặc vật che phù hợp. Với các điểm bán lớn, Hiệp hội có thể quán triệt doanh nghiệp thực hiện.
Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn nằm ở khả năng tổ chức kiểm tra và xử lý vi phạm. Nếu triển khai trên phạm vi toàn quốc với vài trăm nghìn điểm bán, cần xác định rõ lực lượng nào kiểm tra, ai có thẩm quyền lập biên bản, xử phạt và quy trình xử lý ra sao.
“Nếu quy trình quá nhiêu khê, trong khi lực lượng quản lý có hạn, chính sách rất dễ rơi vào tình trạng quy định được ban hành nhưng khó kiểm tra, khó giám sát và khó bảo đảm thực thi đồng đều”, ông Nhân cảnh báo.
Theo đại diện Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam, nếu một bao thuốc được để tại điểm bán chỉ nhằm phục vụ việc bán hàng, không phải quảng cáo hay khuyến mại, đây là vấn đề cần được cân nhắc kỹ khi thiết kế chính sách.
“Nếu cân bằng được giữa mục tiêu quản lý, quyền lợi người tiêu dùng, hoạt động của điểm bán và nguồn lực của cơ quan thực thi thì chính sách sẽ đi vào cuộc sống hiệu quả hơn”, ông Nhân nhấn mạnh.
Trong khi tỷ lệ sử dụng thuốc lá điếu truyền thống ở lứa tuổi học đường có xu hướng giảm, các sản phẩm thuốc lá mới như thuốc lá điện tử, thuốc lá làm nóng lại ngày càng dễ tiếp cận giới trẻ, đặc biệt qua mạng xã hội.
Ông Hoàng Đức Nam, Phó Trưởng Ban Công tác Đoàn, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, cho biết từ thực tiễn đồng hành cùng thanh thiếu nhi, ông nhận thấy xu hướng sử dụng các sản phẩm chứa nicotine ở giới trẻ đang có những diễn biến đáng lo ngại.
Theo ông Nam, sự gia tăng này gắn với sự dịch chuyển mạnh mẽ của kênh tiếp cận sản phẩm sang không gian mạng. Nếu trước đây người trẻ chủ yếu tiếp xúc với thuốc lá tại các điểm bán hoặc qua quan hệ ngoài đời thực, nay chỉ cần sử dụng mạng xã hội, tham gia các hội nhóm trực tuyến hoặc xem livestream, họ có thể dễ dàng tiếp cận sản phẩm.
“Ranh giới giữa một nội dung giải trí thông thường và nội dung quảng bá thuốc lá thế hệ mới đang ngày càng bị xóa nhòa”, ông Hoàng Đức Nam nhận định.
Đáng chú ý, theo ông Nam, hoạt động tiếp thị không còn đơn thuần là quảng cáo trực tiếp mà chuyển sang các hình thức trá hình như chia sẻ trải nghiệm, video “review” sản phẩm hoặc lồng ghép sản phẩm trong nội dung của những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOLs).
Những nội dung này dễ đánh trúng tâm lý tò mò, thích khám phá của trẻ em và người chưa thành niên, từ đó khiến các em muốn thử và có nguy cơ hình thành thói quen sử dụng nicotine từ sớm.
Để ngăn chặn xu hướng này, ông Nam cho rằng quá trình hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào ba vấn đề cốt lõi, trước hết là siết chặt hành lang pháp lý nhằm hạn chế tối đa khả năng tiếp cận thuốc lá mới của trẻ em và người dưới 15 tuổi.
Việc kiểm soát, theo ông, không thể chỉ dừng ở các điểm bán truyền thống mà phải mở rộng sang môi trường số, nơi các sản phẩm thuốc lá mới đang được quảng bá và tiếp cận người trẻ ngày càng dễ dàng.
Theo ông Lê Thành Hưng, Trưởng Phòng Tiêu chuẩn nông nghiệp thực phẩm, Viện Tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ), khi xây dựng chính sách quản lý thuốc lá mới cần xem xét đầy đủ mức độ tác hại, khả năng giảm phơi nhiễm và tác động đối với sức khỏe cộng đồng, thay vì chỉ tập trung vào việc cấm hay không cấm.
Ông Hưng cho rằng phương án chỉ quy định đối với thuốc lá truyền thống để tránh khoảng trống pháp lý khi sản phẩm mới xuất hiện là một hướng có thể nghiên cứu. Tuy nhiên, dưới góc độ kỹ thuật, cách tiếp cận này cần được đánh giá thận trọng.
“Các sản phẩm thuốc lá mới có sự khác biệt so với thuốc lá truyền thống. Đây là một trong những điểm khác biệt cần được xem xét khi xây dựng chính sách và quy định pháp luật”, ông Lê Thành Hưng nói.
Theo ông, xét về tác hại, các sản phẩm thuốc lá mới được cho là có khả năng giảm mức độ phơi nhiễm đối với người sử dụng, người thân và giảm nguy cơ từ hút thuốc thụ động so với thuốc lá truyền thống. Đây là yếu tố cần được đặt lên bàn cân khi xây dựng chính sách quản lý.
Tuy nhiên, ông Hưng cũng lưu ý việc sử dụng các sản phẩm này vẫn tiềm ẩn nguy cơ, trong đó có khả năng thu hút những người trước đây chưa sử dụng thuốc lá. Đây cũng là vấn đề được Tổ chức Y tế thế giới cảnh báo trong trường hợp áp dụng biện pháp cấm.
“Cần tiến hành khảo sát, điều tra và tham khảo kinh nghiệm của các nước để có cách ứng xử pháp luật phù hợp”, ông Hưng đề xuất.
Theo chuyên gia, các quy định trong dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá sửa đổi cần tiếp tục được đánh giá về tính khả thi và tác động đối với sức khỏe người dân, từ đó lựa chọn phương án quản lý phù hợp với thực tiễn.
Song song với đó, hệ thống luật pháp cần xây dựng được các quy định đủ rộng và bao quát để nhận diện và xử lý nghiêm các hành vi quảng cáo, khuyến mại, giới thiệu sản phẩm trá hình trên không gian mạng, tránh tình trạng "bỏ lọt" các phương thức tiếp thị thế hệ mới.
Cuối cùng, chúng ta cần quy định thật rõ ràng trách nhiệm pháp lý của các chủ thể liên quan, đặc biệt là các nhà cung cấp nền tảng mạng xã hội, trong việc phát hiện, ngăn chặn và chủ động gỡ bỏ các thông tin, giao dịch vi phạm pháp luật liên quan đến thuốc lá.
Chúng ta cần tập trung mọi nguồn lực để ngăn chặn không cho trẻ em bắt đầu tiếp xúc và sử dụng các sản phẩm gây nghiện chứa nicotine, thay vì đợi đến khi các em đã hình thành thói quen và lệ thuộc vào nó rồi mới tìm cách can thiệp, điều trị.
Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam ủng hộ các quy định chặt chẽ trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, trong đó có đề xuất cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá thế hệ mới và cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán. Tuy nhiên, đại diện Hiệp hội cho rằng cần tính toán kỹ khả năng thực thi và cách định nghĩa để tránh phát sinh khoảng trống pháp lý.
Ông Nguyễn Chí Nhân, Tổng Thư ký Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam, cho biết Hiệp hội đã tham gia góp ý sâu vào dự thảo và nhiều đề xuất được Bộ Y tế, Ban soạn thảo ghi nhận.
Theo ông Nhân, Hiệp hội hoàn toàn ủng hộ chủ trương phòng, chống tác hại của thuốc lá, đồng thời đánh giá dự thảo lần này đưa ra những quy định chặt chẽ, tiệm cận các tiêu chuẩn cao trên thế giới. Tuy nhiên, thực tế có thể vẫn tồn tại khoảng cách giữa quy định pháp luật và khả năng thực thi.
“Cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn để bảo đảm luật khi ban hành có tính khả thi”, ông Nguyễn Chí Nhân nói.
Không nên chỉ “chạy theo” sản phẩm mới
Một trong những vấn đề được đại diện Hiệp hội lưu ý là cách định nghĩa và quản lý thuốc lá thế hệ mới. Theo ông Nhân, thị trường hiện đã xuất hiện nhiều dạng sản phẩm như thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, thuốc lá ngậm, thuốc lá nhai, túi nicotine...
Nếu pháp luật chỉ cố gắng liệt kê những sản phẩm đã biết để đưa vào diện cấm, khi xuất hiện sản phẩm mới sẽ dễ phát sinh khoảng trống pháp lý.
“Chúng ta đang cố gắng định nghĩa và liệt kê những sản phẩm đã biết để đưa vào phạm vi cấm. Nhưng sau này sẽ tiếp tục xuất hiện những sản phẩm mới thì xử lý thế nào? Đây là vấn đề cần được tính đến”, ông Nhân đặt vấn đề.
Theo ông, có thể nghiên cứu hướng tiếp cận ngược lại: xác định rõ loại thuốc lá được phép tồn tại, thay vì cố gắng liệt kê tất cả sản phẩm bị cấm.
Chẳng hạn, thuốc lá truyền thống được làm từ sợi thuốc lá, cuốn thành điếu và đốt để hút là loại được phép tồn tại; những sản phẩm ngoài dạng này có thể thuộc diện không được phép. Cách tiếp cận này, theo ông Nhân, có thể hạn chế nguy cơ phát sinh khoảng trống khi thị trường xuất hiện sản phẩm mới.
Hàng trăm nghìn điểm bán nhỏ lẻ là bài toán khó
Với đề xuất cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán, ông Nhân cho rằng cần phân biệt rõ trưng bày để quảng cáo với việc bố trí hàng hóa phục vụ bán hàng.
Nếu quy định được ban hành, Hiệp hội sẽ nghiêm túc tuân thủ. Tuy nhiên, khó khăn lớn nằm ở hàng trăm nghìn điểm bán nhỏ lẻ như cửa hàng tạp hóa, quán nước, nhà hàng, quán cà phê.
“Cần làm rõ thế nào được coi là ‘trưng bày’ và thế nào chỉ là lưu giữ hàng hóa để bán, tránh tình trạng người bán vô tình vi phạm”, ông Nhân nói.
Theo ông, với các nhà phân phối cấp 1, đại lý lớn, việc kiểm soát sẽ thuận lợi hơn. Trong khi đó, các điểm bán nhỏ lẻ phân bố rộng, diện tích hạn chế, thậm chí có nơi phải để hàng ngay tại cửa hàng do không có kho riêng.
Do đó, trước khi xử phạt cần tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn để người kinh doanh biết rõ hành vi nào bị cấm; đồng thời xác định rõ lực lượng chịu trách nhiệm kiểm tra và xử lý vi phạm.
Thuế tăng, thuốc lá lậu có thể gia tăng?
Một vấn đề khác được Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam lưu ý là tác động của chính sách thuế và nguy cơ gia tăng thuốc lá nhập lậu.
Theo ông Nhân, khi thuế tăng và các quy định ngày càng chặt chẽ, sản phẩm hợp pháp trong nước sẽ chịu thêm áp lực cạnh tranh với thuốc lá nhập lậu vốn có lợi thế lớn về giá do không chịu các loại thuế, phí.
Đáng lưu ý, nhiều sản phẩm nhập lậu không đáp ứng yêu cầu về cảnh báo sức khỏe, hàm lượng tar, nicotine hay các tiêu chuẩn chất lượng.
“Nếu nguồn cung thuốc lá hợp pháp bị kiểm soát chặt, sản lượng giảm nhưng thuốc lá lậu lại tăng lên để bù đắp thì mục tiêu giảm nguồn cung và tỷ lệ người hút thuốc sẽ khó đạt được”, ông Nhân cảnh báo.
Đại diện Hiệp hội cho rằng mục tiêu giảm số người hút thuốc cần được thực hiện đồng bộ giữa chính sách thuế, kiểm soát nguồn cung trong nước và đặc biệt là kiểm soát hiệu quả thuốc lá nhập lậu.
Theo ông Lê Thành Hưng, Trưởng Phòng Tiêu chuẩn nông nghiệp thực phẩm, Viện Tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ), việc gọi đúng tên các sản phẩm thuốc lá mới có ý nghĩa quan trọng trong phân loại, xây dựng tiêu chuẩn và quản lý.
Từ góc độ kỹ thuật tiêu chuẩn hóa, ông Hưng cho rằng cần căn cứ vào ba yếu tố: nguyên liệu, cấu phần sản phẩm và quá trình diễn ra khi sử dụng.
Với thuốc lá điếu truyền thống, nguyên liệu chủ yếu là lá thuốc lá, sản phẩm về cơ bản không có cấu phần điện tử và khi sử dụng xảy ra quá trình cháy, phát sáng, tỏa năng lượng.
Trong khi đó, sản phẩm thường được gọi là thuốc lá nung nóng vẫn sử dụng nguyên liệu chủ yếu từ thuốc lá nhưng có thiết bị điện tử để làm nóng, tạo ra xon khí và không xảy ra quá trình cháy.
Thuốc lá điện tử cũng sử dụng cấu phần điện tử để làm nóng, tạo xon khí nhưng nguyên liệu đa dạng hơn, có thể chứa nicotine chiết xuất từ thuốc lá, nicotine tổng hợp hoặc thậm chí không chứa nicotine. Ngoài ra còn có các sản phẩm lai giữa thuốc lá nung nóng và thuốc lá điện tử.
“Đây là những yếu tố cần được sử dụng để phân biệt, phân loại và bảo đảm không bỏ lọt đối tượng quản lý”, ông Hưng nhấn mạnh.
300-400 độ C chưa phải “nung”
Đáng chú ý, chuyên gia cho rằng thuật ngữ “thuốc lá nung nóng” chưa thực sự phản ánh đúng bản chất kỹ thuật của sản phẩm.
Theo ông Hưng, quá trình diễn ra trong các sản phẩm này thường ở khoảng 300-400 độ C, trong khi quá trình nung theo nghĩa thông thường có thể ở mức 700-800 độ C. Dự thảo tiêu chuẩn quốc gia của Trung Quốc, chẳng hạn, giới hạn mức nhiệt không quá 380 độ C.
“Đây là quá trình làm nóng chứ chưa phải quá trình nung theo nghĩa thông thường. Vì vậy, về mặt khoa học, nên cân nhắc sử dụng thuật ngữ ‘thuốc lá làm nóng’ để phản ánh đúng bản chất”, ông Lê Thành Hưng đề xuất.
Ông cho biết tiêu chuẩn ISO 6080 cũng định nghĩa theo hướng thuốc lá làm nóng là sản phẩm có nền là thuốc lá, hoạt động bằng cơ chế làm nóng nhưng không đốt cháy để tạo ra xon khí chứa nicotine.
Bên cạnh tên gọi, ông Hưng đề nghị rà soát một số thuật ngữ trong dự thảo như “thiết bị điện” và “thiết bị điện tử”, bởi đây là hai khái niệm khác nhau. Khái niệm “dung dịch thuốc lá điện tử” cũng cần cân nhắc vì về mặt khoa học, “dung dịch” phải có dung môi và chất hòa tan, trong khi sản phẩm thực tế có thể tồn tại dưới những dạng khác.
“Chi tiết về thuật ngữ rất quan trọng để luật vừa bao phủ đầy đủ các đối tượng quản lý, vừa bảo đảm tính chính xác về khoa học, thuận lợi cho xây dựng tiêu chuẩn và triển khai thực thi sau này”, ông Hưng nói.
Việt Nam hiện nằm trong nhóm 15 quốc gia có tỷ lệ nam giới trưởng thành hút thuốc lá cao nhất thế giới, đứng thứ ba ASEAN. Trong khi đó, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đang gia tăng nhanh ở giới trẻ, kéo theo nguy cơ ngộ độc và sử dụng các chất ma túy pha trộn.
Theo ThS. Trần Thị Vân Ngọc, Phó Chánh Văn phòng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), sau hơn 13 năm thực hiện, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đã bộc lộ một số bất cập trước sự thay đổi của kinh tế - xã hội và công nghệ. Bộ Y tế xác định 5 nhóm vấn đề nổi cộm cần xử lý khi sửa luật.
Đáng chú ý nhất là sự gia tăng của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng trong giới trẻ, học sinh, sinh viên. Nghiên cứu tại khoảng 700 bệnh viện trên cả nước cho thấy, năm 2023 có 1.224 trường hợp nhập viện do ngộ độc khi sử dụng thuốc lá điện tử.
“Đã xuất hiện tình trạng phối trộn ma túy vào dung dịch thuốc lá điện tử, khiến người sử dụng có thể bị ngộ độc, ảo giác, ảnh hưởng thần kinh tương tự sử dụng ma túy quá liều”, bà Trần Thị Vân Ngọc cho biết.
Bộ Y tế đề xuất luật hóa khái niệm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các sản phẩm thuốc lá mới; đồng thời cấm toàn diện các sản phẩm này, bao gồm linh kiện, thiết bị, dung dịch và bộ phận dùng để lắp ráp, trừ trường hợp phục vụ nghiên cứu khoa học hoặc cai nghiện theo quy định.
Một vấn đề khác là tình trạng mua bán thuốc lá trên môi trường mạng. Dự thảo được đề xuất bổ sung quy định cấm bán thuốc lá qua sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, ứng dụng số và các nền tảng trực tuyến.
Bộ Y tế cũng đề xuất kiểm soát việc trưng bày thuốc lá tại điểm bán vì cho rằng đây có thể trở thành một hình thức quảng bá sản phẩm. Với việc kiểm soát độ tuổi, người bán có thể yêu cầu người mua xuất trình căn cước, hộ chiếu hoặc sử dụng ứng dụng định danh quốc gia VNeID khi nghi ngờ người mua chưa đủ 18 tuổi.
Việc sửa luật cũng hướng tới đồng bộ hệ thống pháp luật, tháo gỡ vướng mắc trong thực thi, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và cải cách thủ tục hành chính.
“Việc sửa đổi luật lần này có ý nghĩa rất quan trọng trong thực hiện mục tiêu của Chiến lược quốc gia về phòng, chống tác hại của thuốc lá đến năm 2030”, đại diện Bộ Y tế nhấn mạnh.
Khai mạc tòa đàm, Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong thông tin, sau hơn 13 năm đi vào cuộc sống, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đang đứng trước những thách thức mới. Thị trường xuất hiện thêm nhiều sản phẩm, cách thức kinh doanh cũng thay đổi, trong khi một số quy định hiện hành đã bộc lộ khoảng trống, chưa theo kịp thực tế.
Không khó để bắt gặp tình trạng hút thuốc tại nhà hàng, quán ăn, bến xe hay nhiều nơi công cộng. Quy định đã có nhưng việc tuân thủ chưa thật sự nghiêm. Ở nhiều nơi, người được giao nhiệm vụ nhắc nhở lại không có thẩm quyền xử phạt, còn lực lượng kiểm tra thì mỏng.
Đáng chú ý, sự xuất hiện của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các sản phẩm thuốc lá mới đang đặt ra nhiều vấn đề trong quản lý. Trong khi đó, thuốc lá vẫn được bày bán khá phổ biến, dễ tiếp cận. Cách trưng bày tại các điểm bán, dù không phải là quảng cáo trực tiếp, vẫn có thể tạo hiệu ứng thu hút, nhất là với người trẻ.
“Sau hơn 13 năm thực thi, đã đến lúc cần nhìn lại những gì còn bất cập để Luật có thể theo kịp thực tế, vừa lấp được khoảng trống pháp lý, vừa nâng cao hiệu quả thực thi.”
Ngày 22/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 160/NQ-CP, thống nhất thông qua hai nhóm chính sách lớn trong Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.
Theo định hướng này, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các sản phẩm thuốc lá mới khác sẽ bị cấm sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, quá cảnh, vận chuyển, quảng cáo, khuyến mại, tài trợ, chứa chấp và sử dụng. Các cơ sở bán buôn, bán lẻ cũng sẽ không được trưng bày thuốc lá dưới mọi hình thức.
Đây là những thay đổi lớn, nhất là khi Việt Nam hiện có khoảng 16 triệu người hút thuốc, trong đó có một bộ phận là người trẻ.
Từ những vấn đề đang đặt ra, Báo Tiền Phong tổ chức tọa đàm “Góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (sửa đổi): Tăng cường hiệu quả thực thi và phối hợp liên ngành”.
Tọa đàm là dịp để các cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội và đại biểu Quốc hội cùng trao đổi, nhìn nhận những điểm còn vướng trong thực tế và đề xuất giải pháp. Mục tiêu cuối cùng là để những quy định khi được sửa đổi không chỉ chặt chẽ hơn trên giấy, mà thực sự có thể đi vào cuộc sống.
Thuốc lá là một trong những yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng, đồng thời tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá, đẩy mạnh công tác truyền thông, kiểm soát việc sử dụng thuốc lá và xây dựng môi trường không khói thuốc.
Trong quá trình tiếp thu ý kiến thẩm định và hoàn thiện hồ sơ Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (sửa đổi), Bộ Y tế đang tiếp tục rà soát, làm rõ nhiều nội dung nhằm bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, cơ sở khoa học, đánh giá tác động và tính khả thi khi tổ chức thực hiện.
Báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp cũng đã chỉ ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, trong đó có phạm vi điều chỉnh, khái niệm và đối tượng áp dụng, sự thống nhất với các quy định pháp luật hiện hành, cũng như các điều kiện bảo đảm thi hành sau khi Luật được ban hành.
Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện dự thảo Luật không chỉ đặt ra yêu cầu về chất lượng của từng quy định, mà còn đòi hỏi sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan lập pháp, các tổ chức xã hội, chuyên gia, cộng đồng doanh nghiệp và các bên liên quan.
Tọa đàm được tổ chức nhằm tạo một diễn đàn trao đổi khách quan, khoa học và xây dựng, cùng nhìn nhận những nội dung còn cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát trong dự thảo; đồng thời trao đổi về tính thống nhất pháp luật, tính khả thi và cơ chế phối hợp trong quá trình tổ chức thực hiện.
Đặc biệt, thông qua tọa đàm, những thông tin về phòng, chống tác hại của thuốc lá, những điểm mới trong chính sách và yêu cầu thực thi cũng sẽ được truyền tải rộng rãi đến cộng đồng, nhất là thanh thiếu niên và giới trẻ – nhóm đối tượng cần được tăng cường bảo vệ trước nguy cơ tiếp cận và sử dụng các sản phẩm thuốc lá.