Google News

Tuyển sinh Đại học 2026: Thí sinh cần chuẩn bị thế nào?

TP - Dự thảo quy chế tuyển sinh đại học năm 2026 của Bộ GD&ĐT đưa ra hàng loạt điều chỉnh đáng chú ý so với năm 2025. Tuy nhiên, những thay đổi này đã làm lộ rõ các vấn đề về công bằng giữa các phương thức xét tuyển và vai trò điều phối của cơ quan quản lí nhà nước.

Rào cản kép

Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, một thập kỉ qua, phương thức xét tuyển học bạ luôn chiếm khoảng 40% tổng số thí sinh trúng tuyển đại học. Từ năm 2025, Bộ yêu cầu các trường phải xét đủ 6 học kì THPT thay vì chỉ 5 học kì hoặc 2 học kì lớp 12 như trước. Đến dự thảo quy chế năm 2026, phương thức này tiếp tục được bổ sung điều kiện cần: thí sinh phải đạt tối thiểu 16 điểm cho tổ hợp 3 môn xét tuyển.

Lí giải cho quy định mới, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) khẳng định, yêu cầu này nhằm tránh tình trạng học sinh lơ là năm học cuối - giai đoạn then chốt trong cấu trúc chương trình THPT. Theo thiết kế chương trình, kiến thức lớp 12 đóng vai trò nền tảng, kết nối trực tiếp với khối kiến thức cơ bản ở bậc đại học. Việc đặt ngưỡng 16 điểm không chỉ buộc học sinh học tập nghiêm túc hơn mà còn giúp các em có hành trang vững vàng khi bước vào giảng đường. Theo GS. Thảo, mức điểm này phù hợp với mặt bằng chung của thí sinh có thái độ học tập nghiêm túc trong kì thi tốt nghiệp, góp phần bảo đảm chất lượng nguồn tuyển và hướng tới mục tiêu phát triển nguồn nhân lực theo lộ trình đến năm 2030.

Tuy nhiên, thực tế tuyển sinh những năm gần đây lại cho thấy một nghịch lí. Năm 2025, không ít trường đại học lấy điểm chuẩn theo phương thức thi tốt nghiệp THPT ở mức 14-15/30 điểm. Trường Đại học Nguyễn Trãi, với bốn phương thức xét tuyển, có điểm chuẩn dao động từ 15 đến 21,24 điểm. Tại Đại học Huế, hàng loạt ngành ở Trường Đại học Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm, Khoa Quốc tế và Phân hiệu Quảng Trị cũng lấy mức tương tự. Trường ĐH Kinh tế-Tài chính TPHCM xét tuyển 11 tổ hợp cho 41 ngành, trong đó chỉ duy nhất tổ hợp C01 lấy 16 điểm, còn lại đều ở mức 15 điểm.

Sự chênh lệch này đặt ra câu hỏi về nguyên tắc công bằng giữa các phương thức xét tuyển. Khi cùng một chương trình đào tạo, cùng chuẩn đầu ra, nhưng thí sinh xét học bạ phải vượt qua “rào cản kép” so với thí sinh xét điểm thi tốt nghiệp, liệu chính sách có đang vô tình tạo ra bất bình đẳng giữa các con đường vào đại học?

Rủi ro với người học

Trong bối cảnh đó, nhiều trường đã nhanh chóng điều chỉnh phương án tuyển sinh, mở rộng các phương thức xét tuyển kết hợp - tức muốn trúng tuyển phải đáp ứng từ hai điều kiện trở lên. Giải pháp này giúp các trường không phụ thuộc quá nhiều vào một chỉ báo duy nhất, đồng thời đánh giá tổng hợp hơn năng lực người học.

Thực chất, đây là hệ quả tất yếu của việc kì thi tốt nghiệp THPT đã chuyển mạnh sang mục tiêu xét tốt nghiệp là chính. Đề thi vì thế giảm độ khó, khả năng phân loại thí sinh khá - giỏi - xuất sắc bị thu hẹp, điểm số dồn vào một dải hẹp. Với các trường tốp trên, sử dụng duy nhất điểm thi THPT không còn đủ công cụ tuyển chọn. Xét tuyển kết hợp, từ học bạ, các kì thi riêng đến chứng chỉ quốc tế, trở thành giải pháp kĩ thuật để “bù phân hóa”.

kg1.jpg
Bất kì điều chỉnh nào liên quan đến tuyển sinh đều có tác động lớn tới thí sinh. Ảnh: DƯƠNG TRIỀU

Luật Giáo dục đại học trao quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường, nhưng quyền này đi kèm áp lực lớn về chất lượng đầu vào. Không trường nào muốn đặt toàn bộ rủi ro vào một kì thi do bên khác tổ chức. Xét tuyển kết hợp giúp họ phân tán rủi ro, chủ động hơn trong việc lựa chọn thí sinh phù hợp với triết lí đào tạo. Đồng thời, trong bối cảnh quy mô thí sinh không tăng tương ứng với quy mô đào tạo, nhiều trường đối mặt nguy cơ thiếu nguồn tuyển ổn định, còn thí sinh giỏi lại tập trung vào nhóm trường tốp đầu. Mở rộng “cửa vào” vì thế cũng là cách để các trường giữ chân thí sinh sớm.

Tuy nhiên, nếu nhìn ở tầm chính sách, xét tuyển kết hợp hiện nay mang dáng dấp của một giải pháp tình thế. Khi mỗi trường tự xây dựng công thức riêng, khi thiếu một chuẩn đầu vào đủ tin cậy cho toàn hệ thống và khi vai trò điều phối của Bộ GD&ĐT chưa đủ mạnh, xét tuyển kết hợp vừa là lời giải trước mắt, vừa là biểu hiện của sự phân mảnh. Và trong cấu trúc đó, rủi ro lớn nhất đang được đẩy về phía thí sinh.

PGS.TS Bùi Quang Hùng, Phó Giám đốc phụ trách Đại học Kinh tế TPHCM cho biết, năm nay, lần đầu tiên nhà trường thực hiện xét tuyển kết hợp thay vì nhiều phương thức độc lập như trước đây. Việc điều chỉnh phương thức xét tuyển theo một công thức chung, cho phép đánh giá năng lực thí sinh toàn diện, công bằng và sát với yêu cầu đào tạo hiện đại.

Về nguyên tắc, đa dạng phương thức là cần thiết. Nhưng nếu thiếu một chuẩn đầu vào đủ tin cậy và một cơ chế điều phối thống nhất, sự đa dạng này sẽ chuyển hóa thành rủi ro cho thí sinh - nhóm yếu thế nhất trong chuỗi tuyển sinh. Thí sinh buộc phải chạy theo nhiều mốc thời gian, nhiều bộ điều kiện, nhiều cách tính điểm, trong khi sai sót nhỏ cũng có thể khiến mất cơ hội trúng tuyển.

TS. Võ Thanh Hải, Phó Giám đốc ĐH Duy Tân nhận định, điểm thay đổi căn bản của tuyển sinh năm nay là kết quả thi tốt nghiệp THPT gần như xuất hiện trong mọi phương thức xét tuyển. Vì vậy, thí sinh cần tập trung chọn hai môn tự chọn là thế mạnh để tối ưu điểm thi, đầu tư nghiêm túc cho kì thi tốt nghiệp, tham khảo đề thi các năm trước để xây dựng phương pháp học tập phù hợp. Khi chọn ngành, chọn trường, thí sinh phải đọc kĩ đề án tuyển sinh để nắm rõ phương thức, tổ hợp và các điều kiện phụ. Ông khuyến nghị thí sinh nên đăng kí nguyện vọng ở nhiều trường khác nhau trong cùng một ngành nhằm gia tăng cơ hội trúng tuyển.

Thực tế cho thấy, khi các trường mở rộng xét tuyển kết hợp, thí sinh buộc phải trở thành “người quản trị chiến lược tuyển sinh” cho chính mình. Trong một hệ thống còn thiếu chuẩn hóa và hỗ trợ đầy đủ, người chịu rủi ro lớn nhất không phải là nhà trường, mà chính là người học.