Từ tinh mơ đến tối mịt, người dân làng nghề nồi đất Trù Sơn (Nghệ An) vẫn tất bật nhào đất, xoay khuôn, canh lò để kịp đơn hàng phục vụ thị trường Tết và giữ nhịp sống cho làng nghề truyền thống trăm năm tuổi.
Con đường dẫn về làng nghề nồi đất Trù Sơn (xã Bạch Hà, tỉnh Nghệ An) như được nhuộm một gam màu rất riêng - màu đỏ au của đất nung, của lửa lò và nhịp sống tất bật ngày đầu năm mới. Trong những căn nhà thấp mái, các lò nung đã đỏ lửa từ sáng sớm. Lửa cháy âm ỉ suốt ngày, đưa từng mẻ nồi ra lò để kịp đơn hàng Tết. Mỗi ngày, hàng nghìn sản phẩm được hoàn thiện, theo chân thương lái tỏa đi khắp nơi.
Không ai nhớ chính xác làng nồi đất Trù Sơn có từ bao giờ. Chỉ biết rằng từ khi những người cao tuổi trong làng sinh ra, họ đã thấy ông bà, cha mẹ mình gánh đất, xoay nồi, giữ lửa. Có lúc, dưới sức ép kinh tế thị trường, nghề làm nồi tưởng như bị mai một vì sản phẩm làm ra không bán được, thu nhập không đủ bù cho công sức bỏ ra. Tuy nhiên, nhờ kiên trì giữ nghề mà giờ đây, khi nhu cầu của thị trường tăng lên, việc làm nồi lại tất bật trở lại.
Đất sét để làm nồi đất phải là loại sét trong, mịn, không tạp chất. Để có thể tạo ra những sản phẩm mang đặc trưng của gốm Trù Sơn, đất sét phải trải qua một quá trình nhào nặn công phu.
Dụng cụ làm nghề cũng rất đơn sơ, một bàn xoay, vài miếng giẻ nhỏ, một khoanh nứa mỏng để cắt gọt. Chỉ trong thoáng chốc, từ khối đất vô tri, chiếc nồi đất hiện ra tròn đều, mộc mạc, mang dấu ấn hoàn toàn thủ công của người thợ làng.
Nồi đất Trù Sơn không cầu kỳ kiểu dáng, chủ yếu phục vụ sinh hoạt đời thường: nồi nấu cơm, đồ xôi, kho cá, sắc thuốc… Đặc trưng của gốm Trù Sơn là không tráng men, giữ nguyên màu đất vàng đỏ tự nhiên, giản dị như chính con người nơi đây.
Bên lò nung rực lửa, ông Nguyễn Đình Thảo (xóm Trù Sơn, xã Bạch Hà) vừa trở than vừa chậm rãi chia sẻ: “Làm nồi đất không khó, nhưng để nồi bền, đẹp, không nứt khi nung thì phải có kinh nghiệm. Đất phải chọn đúng loại sét mịn, ngâm đủ ngày, nhồi thật kỹ. Đến lúc nung lò lại càng phải canh lửa. Già lửa thì nồi nứt, non lửa thì nồi không chín. Càng sát Tết, số lượng càng nhiều, lò phải đỏ suốt ngày mới kịp hàng”.
Theo ông Thảo, khâu quyết định thành bại của một mẻ nồi vẫn là nung lò. Mỗi mẻ nung kéo dài 4-5 tiếng, thường bắt đầu từ trưa đến chiều tối, với khoảng 250-300 chiếc nồi. Việc duy trì ngọn lửa, điều chỉnh nhiệt độ của lò đun ảnh hưởng đến chất lượng, độ cứng, bền và màu sắc của từng sản phẩm.
Người dân "canh" lửa...
Công đoạn nung gốm phải diễn ra vào ngày nắng ráo.
Ông Nguyễn Công Minh, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Bạch Hà - cho biết: “Nghề làm nồi đất ở Trù Sơn được công nhận làng nghề vào năm 2020, hiện toàn xã còn khoảng 20 hộ còn duy trì làm nồi đất. Chúng tôi đang xây dựng làng nghề gắn với du lịch cộng đồng. Trong đó, đẩy mạnh khoa học công nghệ, chuyển đổi số để quảng bá sản phẩm”.