Ngày 31/3, tại Tọa đàm “Nông nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên số: Tái cấu trúc để bứt phá bền vững”, ông Nguyễn Huy Bích - nguyên Trưởng khoa Cơ khí trường Đại học Nông Lâm TPHCM - cho biết, nông nghiệp từ lâu vẫn được xem là “bà đỡ” của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, các chỉ số phát triển chưa phản ánh đúng tiềm năng và giá trị của ngành.
Theo ông Bích, tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có quy mô dân số hơn 101 triệu người. Lực lượng lao động nông thôn chiếm hơn 61,4% tổng lao động toàn quốc nhưng đóng góp vào GDP của ngành nông nghiệp lại chưa đầy 12% (khoảng 59,8 tỷ USD trên tổng số 514 tỷ USD GDP quốc gia).
Tỷ lệ lao động đông nhưng giá trị sản phẩm tạo ra quá thấp. Đơn cử tại thị trường lúa gạo, khi các đối tác lớn Philippines hay Indonesia tạm ngưng nhập khẩu, giá lúa trong nước lập tức giảm sâu. Sau hơn ba tháng canh tác, lợi nhuận người nông dân thu về trên mỗi 1.000m² ruộng chưa tới 4 triệu đồng.
“Chính nghịch lý này đã thúc đẩy làn sóng dịch chuyển lao động khỏi nông thôn. Thanh niên rời bỏ đồng ruộng để tìm cơ hội ở đô thị, kéo theo những hệ lụy về mất cân bằng lao động và cấu trúc xã hội. Nông nghiệp tiếp tục phụ thuộc vào lực lượng lao động già hóa, trong khi thiếu vắng nguồn nhân lực trẻ có khả năng tiếp cận công nghệ mới” – ông Bích nhận định.
Một điểm nghẽn lớn khác là trình độ cơ giới hóa còn thấp và thiếu đồng bộ. Ngoài cây lúa đạt mức cơ giới hóa tương đối, phần lớn các lĩnh vực khác như rau màu, mía hay cây ăn trái vẫn dựa chủ yếu vào lao động thủ công.
Đáng chú ý, nhóm cây ăn trái vốn mang lại giá trị xuất khẩu cao lại có tỷ lệ cơ giới hóa dưới 10%.
Trong bối cảnh thế giới đang tiến sâu vào cách mạng công nghiệp 4.0, nông nghiệp Việt Nam mới chỉ dừng lại ở mức độ cơ giới hóa 2.0 ở một số lĩnh vực.
Ngoài ra, tỷ lệ nội địa hóa thiết bị nông nghiệp chỉ đạt khoảng 20-30%, phần còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu. Điều này không chỉ làm tăng chi phí mà còn khiến máy móc khó thích ứng với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng đa dạng của từng vùng. Trong khi đó, công nghiệp hỗ trợ trong nước vẫn chưa phát triển đủ mạnh để tạo ra các dòng máy chuyên dụng phù hợp thực tế sản xuất.
Ông Nguyễn Huy Bích cho rằng, để tháo gỡ những điểm nghẽn này, việc chuyển đổi sang nông nghiệp thông minh không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc. Trong đó ứng dụng công nghệ số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo được xem là con đường duy nhất để nâng cao năng suất và giá trị gia tăng.
Theo nhiều doanh nghiệp, rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở lực lượng lao động nông nghiệp trực tiếp. Hiện có tới 66% dân số làm nông nghiệp nhưng độ tuổi trung bình đang già hóa nhanh chóng, phần lớn trên 45 tuổi thay vì 38 tuổi như cách đây một thập kỷ. Đi kèm với đó là trình độ học vấn còn hạn chế với 60% ở mức tiểu học và gần 30% ở mức trung học cơ sở, dẫn đến việc khó tiếp nhận và hiểu rõ tầm quan trọng của công nghệ.
Ngoài ra, nông dân vẫn còn có tâm lý e ngại vì cho rằng chuyển đổi số chỉ làm mất thời gian và công sức. Trong khi đó, việc số hóa là sống còn để quản lý vùng trồng và kiểm soát chất lượng, đặc biệt là trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu như Trung Quốc và Châu Âu ngày càng siết chặt các rào cản kỹ thuật về dư lượng kim loại nặng hay kiểm dịch thực vật.