Nhận định được nêu ra tại Diễn đàn Đất mặn, cùng tìm giải pháp chung tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), diễn ra ngày 21/1, tại Cần Thơ. Bà Raïssa Marteaux - Tổng Lãnh sự Hà Lan tại TPHCM cho biết, trên toàn cầu, xâm nhập mặn đã và đang đe dọa đến an ninh lương thực và đa dạng sinh học, sinh kế của người dân. Tại Hà Lan, độ mặn cũng gia tăng, hiện khoảng 14% diện tích của nước này bị ảnh hưởng hoặc có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn.
Với ĐBSCL, bà Raïssa Marteaux đánh giá, đây là vùng có tầm quan trọng đặc biệt, vừa tham gia bảo đảm an ninh lương thực của Việt Nam, vừa là nguồn sinh kế của hàng triệu nông dân. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với ngày càng nhiều thách thức, như gia tăng xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu, hạn hán kéo dài và những thay đổi môi trường.
“Nồng độ muối trong đất và nước ở ĐBSCL ngày càng tăng, ảnh hưởng đến nông nghiệp, đe dọa an ninh lương thực và sinh kế cho hàng triệu người. Đây là thách thức mà không một quốc gia, hay một ngành nghề nào có thể giải quyết một cách đơn độc”, bà Marteaux nói.
Nhiều năm qua, theo đại diện Tổng Lãnh sự Hà Lan tại TPHCM, Hà Lan và Việt Nam đã hợp tác chặt chẽ thông qua các thỏa thuận đối tác chiến lược về nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực, quản lý nước và biến đổi khí hậu. Ngành trồng trọt và ĐBSCL từ lâu đã là những ưu tiên trong hợp tác song phương giữa hai quốc gia, và Hà Lan vẫn cam kết chia sẻ kiến thức, công nghệ và hợp tác vì lợi ích chung về kinh tế và môi trường.
Ông Arjen de Vos - Giám đốc tổ chức The Salt Doctors (tổ chức quốc tế chuyên cung cấp giải pháp nông nghiệp bền vững) cho rằng, Việt Nam là quốc gia chiến lược để thúc đẩy nông nghiệp thông minh thích ứng với đất bị nhiễm mặn. Nhiễm mặn là một thách thức cấp bách tại ĐBSCL và các vùng khác, nhưng cũng tạo cơ hội để chứng minh nông nghiệp trên đất mặn có thể bảo đảm sinh kế cho nông dân, tăng cường an ninh lương thực quốc gia.
Theo ông Arjen de Vos, để ứng phó nhiễm mặn, trước mắt cần áp dụng hệ thống thủy canh, các giống cây chịu mặn, sử dụng nước ngọt hiệu quả ở những khu vực canh tác truyền thống gặp khó khăn. Đi kèm đó cần đánh giá, lập bản đồ độ mặn giúp xác định rủi ro và cơ hội, chiến lược canh tác phù hợp, phương pháp quản lý đất, nước…
TS Văn Phạm Đăng Trí - Viện Mekong (Đại học Cần Thơ) chia sẻ, vùng ĐBSCL có ý nghĩa chiến lược, vai trò then chốt đối với an ninh lương thực quốc gia, sinh kế người dân và ổn định khu vực. Tuy nhiên, khu vực này đang ngày càng dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các hoạt động phát triển ở thượng nguồn.
Theo ông Trí, xâm nhập mặn, sụt lún đất, suy giảm đa dạng sinh học và gián đoạn sinh kế là những thách thức có tính liên kết chặt chẽ, ngày càng tăng bởi nông nghiệp thâm canh, cùng với quản lý nước và trầm tích thiếu bền vững. Trong khi đó, các biện pháp ứng phó hiện nay còn phân mảnh, các nghiên cứu, chính sách về tài nguyên nước còn thiếu tích hợp ở quy mô toàn đồng bằng, thiếu đánh giá đầy đủ các tác động xã hội.
Do đó, theo ông Trí, việc quản lý thích ứng với hạn, mặn cần tăng cường liên kết giữa khoa học - chính sách - thực tiễn, thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới và chia sẻ tri thức. Qua đó nhằm hỗ trợ các lộ trình thích ứng dài hạn, dựa trên bằng chứng và bao trùm xã hội cho ĐBSCL...
Số liệu đưa ra tại diễn đàn cho thấy, biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất. Tại ĐBSCL, khoảng 1,7 triệu ha đất (chiếm 40% diện tích ĐBSCL) bị ảnh hưởng bởi mặn, rõ rệt nhất vào mùa khô. Nguyên nhân do nước biển dâng, các hiện tượng thời tiết cực đoan, giảm lưu lượng nước ngọt từ thượng nguồn sông Mê Kông do đập thủy điện, thay đổi mục đích sử dụng đất, khai thác nước ngầm quá mức gây sụt lún đất.