'Nhúng' giảng viên vào thực tế

Thông báo số 45 của Ban chỉ đạo T.Ư về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số yêu cầu 4 đại học lớn phải “nhúng” giảng viên vào môi trường thực tế, thoát khỏi môi trường “vô trùng” của học thuật.

Thoát khỏi “tháp ngà”

TS. Nguyễn Viết Thái đang giảng dạy tại một trường đại học (ĐH) tại Hà Nội cho rằng, việc giảng viên thường xuyên tiếp cận thực tiễn và có cơ hội trao đổi với những người đang trực tiếp làm nghề giúp soi chiếu, rà soát lại các lí thuyết đang được giảng dạy trong nhà trường. Qua đó, bài giảng trở nên sinh động, cập nhật hơn, giúp phát hiện những vấn đề cần điều chỉnh, bổ sung hoặc “hiệu chỉnh” lại hệ thống lí thuyết.

Là người vừa giảng dạy vừa làm việc với các doanh nghiệp, đơn vị lữ hành du lịch ngoài trường, TS. Nguyễn Viết Thái nhận định, nhiều lí thuyết hiện nay đang chậm nhịp so với thực tiễn, đặc biệt trong các ngành như du lịch, nơi hoạt động marketing đang được số hóa mạnh mẽ và diễn ra rất nhanh.

Trong quá trình tham gia tư vấn cho doanh nghiệp, ông nhận thấy, trong khi lí thuyết thường được phân tách thành các mảng riêng biệt, thì thực tiễn vận hành lại mang tính tổng hợp, được tổ chức theo mục tiêu và nhu cầu sử dụng cụ thể của doanh nghiệp.

Từ thực tiễn đó, ông có thể bổ sung nhiều nội dung mới, phản ánh các vấn đề đang được triển khai trong đời sống kinh tế-xã hội, qua đó nâng cao tính hấp dẫn của bài giảng và cập nhật, hoàn thiện giáo trình. Việc gắn kết với doanh nghiệp cũng tạo điều kiện mở rộng hợp tác, kết nối đơn vị tiếp nhận sinh viên thực tập, góp phần tăng cường mối liên hệ giữa đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

Tiết học của sinh viên ĐH Quốc gia Hà Nội

GS.TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho hay, nhà trường không thống kê số lượng giảng viên làm việc tại các doanh nghiệp ngoài trường nhưng hằng năm, số lượng đề tài từ các tập đoàn lớn như Viettel, Samsung, VNPT, FPT, Imra đều có và mỗi nhóm tham gia khoảng 5-10 giảng viên. GS. Trình ủng hộ việc giảng viên tham gia đề tài nghiên cứu khoa học, hoặc nếu được R&D sẽ rất tốt. Tuy nhiên, nó đòi hỏi giảng viên phải sắp xếp, phân bổ thời gian hợp lí.

Cần giải phóng tiến sĩ khỏi “thợ dạy”

GS.TS Phùng Hồ Hải (Viện Toán học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đánh giá, chủ trương nêu tại Thông báo số 45 là một tín hiệu tích cực đối với cộng đồng khoa học. Tuy nhiên, theo ông, vấn đề cốt lõi hiện nay không nằm ở nguồn kinh phí, mà ở cơ chế.

Dẫn ví dụ từ thực tiễn một trường ĐH lớn, GS. Phùng Hồ Hải cho rằng, mô hình dựa chủ yếu vào học phí với quy mô sinh viên đông và mức thu cao, đang khiến trường ĐH vận hành theo logic kinh doanh. Khi số lượng giảng viên không tăng tương xứng, thu nhập cá nhân có thể được cải thiện, nhưng chất lượng đào tạo khó được bảo đảm. “Trong mô hình đó, làm sao có chất lượng”, ông Hải đặt vấn đề.

Theo GS. Phùng Hồ Hải, Nhà nước cần đầu tư cho giáo dục ĐH không phải bằng cách ưu tiên cơ sở hạ tầng, mà bằng cơ chế tạo điều kiện để giảng viên có thời gian nghiên cứu. Qua tìm hiểu thực tế, ông cho biết, tại trường ĐH nói trên, nhiều giảng viên đang ở trạng thái “thợ dạy”, hầu như không còn quỹ thời gian cho nghiên cứu khoa học.

Giảng viên, sinh viên làm việc trong phòng thí nghiệm của trường đại học. Ảnh: NTCC

GS. Phùng Hồ Hải dẫn kinh nghiệm quốc tế, tại nhiều nước, các giáo sư, phó giáo sư được hưởng chế độ nghỉ học thuật (sabbatical leave) với nguyên lương hoặc một phần lương, và sử dụng nguồn lực đó để đi nghiên cứu, hợp tác học thuật ở nước ngoài. Tại Việt Nam, mức lương hiện nay không đủ để giảng viên tự trang trải chi phí tu nghiệp. Quan trọng hơn, khi toàn bộ thời gian bị cuốn vào giảng dạy, không có nghiên cứu nền tảng, giảng viên cũng khó có thể hợp tác học thuật thực chất với các trường ĐH quốc tế.

Chủ trương cho phép giảng viên, tiến sĩ sau mỗi 5-7 năm công tác được dành thời gian làm việc tại doanh nghiệp hoặc tu nghiệp ở nước ngoài được xem là một bước đi tiến bộ. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cảnh báo, khi giảng viên còn đang quá tải giảng dạy, thiếu thời gian và điều kiện nghiên cứu, thì nói đến sabbatical hay tu nghiệp chỉ có nguy cơ dừng lại ở khẩu hiệu, thậm chí phản tác dụng đối với chất lượng đào tạo ĐH.

Ông chỉ ra nghịch lí về nhân lực giảng dạy tại một số cơ sở đào tạo lớn, có những môn học không đủ giảng viên cơ hữu, buộc phải thuê giảng viên bên ngoài. Mỗi năm, trường có khoảng 7.000-8.000 sinh viên tốt nghiệp, nhưng số giảng viên đủ năng lực hướng dẫn khóa luận chỉ ở mức vài trăm người. Điều này đồng nghĩa, riêng việc hướng dẫn khóa luận cho hệ cử nhân chính quy, mỗi giảng viên đã phải phụ trách trung bình ít nhất 10 sinh viên/năm, chưa kể khối lượng giảng dạy cho các hệ đào tạo khác và sau ĐH. Theo GS. Phùng Hồ Hải, tình trạng quá tải này đang “bóp nghẹt” thời gian nghiên cứu, yếu tố then chốt để nâng cao trình độ giảng viên và chất lượng đào tạo.

Chỉ khi nâng được tỉ lệ tiến sĩ trên sinh viên thì chất lượng đào tạo mới có thể được cải thiện. Khi tiến sĩ không còn chỉ là “thợ dạy”, mà có thời gian nghiên cứu, họ mới có thể nâng cao năng lực chuyên môn và phục vụ hiệu quả cho hoạt động giảng dạy. GS. Phùng Hồ Hải nhấn mạnh, tỉ lệ sinh viên làm khóa luận hằng năm trên mỗi tiến sĩ nên dừng ở mức tối đa 4 sinh viên. Trong khi đó, thực tế có những khoa lên tới 15 sinh viên/tiến sĩ. Con số khiến ông nghi ngờ về khả năng bảo đảm chất lượng đào tạo. Với đào tạo sau ĐH, theo ông, cần tạo ra “cầu” thực chất trong xã hội trước khi bàn đến việc mở rộng “cung”.

Ở góc nhìn rộng hơn, nhiều chuyên gia cho rằng, chủ trương “sau mỗi 5 năm, giảng viên hoặc tiến sĩ có thể dành 1 năm làm việc tại doanh nghiệp hoặc tu nghiệp ở nước ngoài” là một hướng tiếp cận hợp lí, có sự tương đồng đáng kể với mô hình sabbatical đang được áp dụng phổ biến tại các ĐH trên thế giới.

Nếu được hiểu đúng và thiết kế phù hợp, chủ trương cho phép giảng viên sau mỗi 5-7 năm công tác dành 1 năm làm việc tại doanh nghiệp hoặc tu nghiệp ở nước ngoài về bản chất khá gần với mô hình sabbatical. Vấn đề then chốt không nằm ở ý tưởng, mà ở khâu triển khai, đòi hỏi phải có đối tác đủ năng lực, dự án cụ thể, cơ chế rõ ràng về quyền lợi và sở hữu trí tuệ, cùng các tiêu chí đầu ra có thể đo lường, nhằm tránh nguy cơ thực hiện mang tính hình thức.

Các chuyên gia cũng cảnh báo, nếu chính sách bị biến thành một thủ tục hành chính nhằm hoàn thiện hồ sơ hoặc chỉ tiêu, hiệu quả không những không đạt được mà còn có thể phản tác dụng. Đặc biệt, không loại trừ khả năng doanh nghiệp lợi dụng chính sách để làm đẹp hình ảnh hợp tác, trong khi không có hoạt động R&D thực chất. Trong những trường hợp như vậy, giảng viên có thể chỉ tham gia mang tính hình thức, không tạo ra sản phẩm, công nghệ hay tri thức mới, đồng thời làm gián đoạn hoạt động nghiên cứu tại cơ sở đào tạo.

Ngược lại, nếu được triển khai đúng hướng, chính sách này có thể tạo ra tác động tích cực. Khi giảng viên tham gia làm việc tại các doanh nghiệp có năng lực R&D thực sự, được giao nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, họ không chỉ tiếp cận tư duy phát triển sản phẩm theo chuẩn công nghiệp, mà còn có thể tạo ra các đầu ra rõ ràng như nguyên mẫu, quy trình công nghệ, dữ liệu nghiên cứu, hồ sơ sở hữu trí tuệ hoặc công bố khoa học. Khi quay trở lại trường, những năng lực và mạng lưới hợp tác này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu và mở rộng khả năng chuyển giao công nghệ.

Đây không phải là một ý tưởng mới hay thiếu cơ sở, mà đã được kiểm chứng trong thực tiễn giáo dục ĐH quốc tế. Tuy nhiên, giá trị của chính sách chỉ có thể được hiện thực hóa khi nó được triển khai đúng tinh thần của một chương trình nâng cao năng lực kiểu sabbatical, thay vì trở thành một công cụ mang tính hình thức hoặc phương tiện “đánh bóng” hợp tác.