Trong dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh của Bộ Y tế, tại Chương III, Mục 2 quy định đối tượng, nội dung giám sát trong phòng, chống rối loạn tâm thần đã đề cập tới 3 nhóm đối tượng giám sát rối loạn tâm thần, trong đó có nhóm đối tượng chịu áp lực cao, kéo dài về học tập, lao động, kinh tế.
Những người bị stress kéo dài hoặc sang chấn tâm lý do thất nghiệp, ly hôn, bạo lực gia đình, xâm hại, dễ lo âu, cầu toàn quá mức, không biết quản lý cảm xúc tiêu cực... đều được đưa vào diện giám sát rối loạn tâm thần.
Quan tâm tới sức khỏe tâm thần sớm hơn
Bạn Triệu Tuyết Linh (22 tuổi, phường Từ Liêm, Hà Nội) cho rằng, đây là hướng đi dễ hiểu và có ý nghĩa trong việc khuyến khích người dân quan tâm đến sức khỏe tâm thần sớm hơn.
Tuy nhiên, một số tiêu chí như stress vì học tập, áp lực kinh tế hay khó kiểm soát cảm xúc lại khá phổ biến trong đời sống, nên nếu đưa chung vào diện giám sát có thể khiến phạm vi chính sách trở nên quá rộng.
Vì vậy, dự thảo nên bổ sung các ngưỡng cụ thể hơn về thời gian, mức độ, tiền sử bệnh… để việc áp dụng rõ ràng hơn, tránh việc vô tình coi những trạng thái tâm lý bình thường trong cuộc sống như một dạng bệnh cần phải điều trị.
Theo Tuyết Linh, việc dự thảo quan tâm nhiều hơn tới sức khỏe tâm thần là điều tích cực. Điều đó cho thấy những áp lực tinh thần của học sinh, sinh viên đang được nhìn nhận nghiêm túc hơn. Tuy nhiên, khi đọc các tiêu chí như stress vì học tập hay khó kiểm soát cảm xúc được đưa vào diện giám sát cũng có chút băn khoăn.
Bởi, đây là những trạng thái khá phổ biến trong quá trình học tập, nên nếu quy định quá rộng thì dễ khiến người trong cuộc cảm thấy mình như đang bị xem là bệnh nhân, trong khi nhiều khi đó áp lực khó tránh khỏi .
"Vì vậy, theo tôi dự thảo nên có các tiêu chí cụ thể hơn về mức độ và thời gian để hỗ trợ đúng đối tượng, đồng thời tránh khiến những người đang cố gắng vượt qua áp lực học tập cảm thấy bị gắn nhãn bệnh lý", Triệu Tuyết Linh chia sẻ.
Tránh "y khoa hóa" các vấn đề tâm lý bình thường
Chia sẻ với PV Báo Tiền Phong, TS. Tâm lý học Giang Thiên Vũ - Giảng viên Đại học Sư phạm TPHCM phân tích, việc đưa nhóm “đối tượng chịu áp lực cao, kéo dài về học tập, lao động, kinh tế” vào diện giám sát trong phòng, chống rối loạn tâm thần trong dự thảo Thông tư là một nội dung khá mới và cũng gây nhiều tranh luận trong giới chuyên môn.
Nếu nhìn từ góc độ khoa học tâm lý và sức khỏe tâm thần cộng đồng, về mặt khoa học, việc nhận diện những nhóm có nguy cơ cao là một hướng tiếp cận phù hợp với xu hướng dự phòng sớm và dự phòng cấp một trong sức khỏe tâm thần.
Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy stress kéo dài, sang chấn tâm lý, thất nghiệp, bạo lực gia đình hay áp lực học tập có liên hệ đáng kể với nguy cơ phát triển các rối loạn như trầm cảm, lo âu, rối loạn stress sau sang chấn (PTSD).
Vì vậy, nếu hiểu theo nghĩa giám sát dịch tễ học và theo dõi nguy cơ, thì việc đưa nhóm này vào hệ thống theo dõi là hợp lý, giúp cơ quan y tế và các hệ thống hỗ trợ xã hội phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.
Tuy nhiên, vấn đề cần thận trọng nằm ở cách diễn đạt và triển khai thực tế. Những biểu hiện như “stress kéo dài”, “dễ lo âu”, “cầu toàn”, hay “không biết quản lý cảm xúc tiêu cực” vốn là những trạng thái tâm lý khá phổ biến trong đời sống hiện đại và không đồng nghĩa với rối loạn tâm thần.
Nếu không có tiêu chí đánh giá khoa học, nguy cơ xảy ra hiện tượng “y khoa hóa các vấn đề tâm lý bình thường” là rất lớn. Điều này có thể dẫn đến việc gắn nhãn không cần thiết, làm gia tăng kỳ thị xã hội đối với các vấn đề tâm lý.
"Chúng ta cũng cần làm rõ mục tiêu của “giám sát”. Trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, giám sát không nên được hiểu theo nghĩa quản lý hay kiểm soát cá nhân, mà nên được hiểu là thu thập dữ liệu, theo dõi xu hướng nguy cơ và xây dựng các chương trình hỗ trợ phù hợp. Ví dụ, trong bối cảnh trường học, thay vì “giám sát học sinh stress”, cần phát triển các chương trình giáo dục cảm xúc - xã hội (SEL), kỹ năng quản lý stress, tư vấn học đường để hỗ trợ học sinh", TS. Giang Thiên Vũ nói.
Vị chuyên gia cũng cho rằng, cần đặt nội dung này trong khung tiếp cận sức khỏe tâm thần tích cực. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hiện nay nhấn mạnh rằng chăm sóc sức khỏe tâm thần không chỉ là phát hiện rối loạn mà còn là tăng cường năng lực thích ứng, khả năng phục hồi (resilience) và vốn tâm lý của cá nhân. Do đó, nếu chính sách chỉ dừng ở “giám sát nguy cơ” mà không đi kèm các chương trình phòng ngừa, giáo dục và hỗ trợ tâm lý cộng đồng, thì hiệu quả sẽ rất hạn chế.
Nếu được thiết kế và triển khai cẩn trọng, quy định này có thể trở thành một bước quan trọng trong việc chuyển từ cách tiếp cận “chữa bệnh” sang “phòng ngừa và nâng cao sức khỏe tâm thần” trong xã hội Việt Nam.