Kỹ sư Việt tự tin làm chủ công nghệ 'đón sóng' đường sắt tốc độ cao

Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam với vận tốc trên 300 km/h đặt ra bài toán không chỉ về vốn mà còn về làm chủ công nghệ. Từ thực tiễn vận hành tại các nhà ga, nhiều kỹ sư Việt Nam cho thấy có thể tự chủ hệ thống tín hiệu, nếu được tham gia từ khâu đầu của dự án.

Thoát "bẫy" ép giá và độc quyền công nghệ

Hệ thống thông tin tín hiệu được ví như “mạch máu” và “bộ não” của ngành đường sắt, kiểm soát từ khoảng cách giữa các đoàn tàu, giới hạn tốc độ đến lịch trình và thứ tự vào ga. Đây là hệ thống có độ phức tạp cao, quyết định trực tiếp đến an toàn và năng lực khai thác của toàn tuyến.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy các thiết bị ngoại nhập sau một thời gian thường rơi vào tình trạng ngừng sản xuất, khiến việc tìm linh kiện thay thế trở nên khó khăn. Lợi dụng yếu tố bản quyền, nhiều đối tác nước ngoài đã “ép giá” doanh nghiệp trong nước. Đơn cử tại dự án cải tạo ga Cầu Giát (Nghệ An), chỉ một yêu cầu chỉnh sửa thiết kế nhỏ, đối tác ngoại đã đưa ra mức phí lên tới hàng chục tỷ đồng. Tại một dự án khác, tổng mức đầu tư ban đầu khoảng 150 tỷ đồng bị đẩy lên 360 tỷ đồng qua các lần bỏ thầu.

Ga Đặng Xá, Ninh Bình. Ảnh: Lộc Liên.

Không chấp nhận sự phụ thuộc đó, các đơn vị đường sắt trong nước như Công ty CP Thông tin tín hiệu đường sắt Hà Nội và các chi nhánh tại Vinh đã theo đuổi chiến lược “nội địa hóa” trong thiết kế, thi công và vận hành hệ thống.

Đáng chú ý, các kỹ sư Việt Nam hiện đã làm chủ hoàn toàn công nghệ thiết kế, thi công hệ thống liên khóa rơ-le 6502 (hệ thống tín hiệu đường sắt tự động của Trung Quốc), và tích hợp với các thiết bị điện tử hiện đại của các tập đoàn hàng đầu như Alstom (Pháp). Việc nắm giữ thuật toán và phần mềm lập trình cho phép chủ động xử lý sự cố từ xa, thậm chí điều chỉnh hoặc viết lại phần mềm để phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam mà không cần chuyên gia nước ngoài. Những giải pháp này giúp tiết kiệm chi phí đầu tư và rút ngắn thời gian triển khai dự án từ 2-3 năm xuống còn khoảng 1 năm.

Sẵn sàng cho đường sắt tốc độ cao

Dù năng lực đã được khẳng định, để đón đầu dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, bài học được rút ra là các đơn vị vận hành như Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) cần được tham gia từ đầu trong quá trình thực hiện dự án. Nguyên nhân nằm ở tính đặc thù của hệ thống tín hiệu, với hàng chục nghìn đầu dây và sơ đồ chi tiết. Một kỹ sư dù được đào tạo bài bản vẫn cần nhiều năm kinh nghiệm thực tế mới có thể vận hành thành thạo.

Nếu nhà thầu thi công độc lập và chỉ bàn giao khi hoàn tất, đơn vị vận hành sẽ rơi vào thế bị động. Vì vậy, tại nhiều dự án hiện nay, phòng kỹ thuật luôn phải cử nhân sự bám sát hiện trường, tham gia trực tiếp từ khâu lắp đặt, đấu nối đến chạy thử. Việc tham gia từ sớm giúp kỹ sư nắm rõ cấu trúc hệ thống, qua đó nâng cao khả năng xử lý sự cố và tối ưu công tác bảo trì, quản lý sau này.

Trong tương lai, công nghệ đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam với vận tốc trên 300km/h đòi hỏi độ chính xác đến từng micro giây và khả năng giao tiếp thời gian thực giữa các hệ thống. Lãnh đạo các đơn vị thông tin tín hiệu của VNR khẳng định sự tự tin dựa trên nền tảng nội lực đã được tích lũy trong nhiều năm.

Song song với thực hành trong nước, đội ngũ kỹ sư, cán bộ cũng được cử đi đào tạo chuyên sâu tại các quốc gia có đường sắt phát triển như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước châu Âu.

Mô phỏng dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam tại ga Vinh. Ảnh: Lộc Liên.

Ông Trần Hải Anh - Giám đốc Công ty CP Thông tin tín hiệu dfường sắt Vinh - cho biết, với lực lượng kỹ sư trẻ và khả năng tiếp thu nhanh, Việt Nam có thể làm chủ công tác quản lý, vận hành và bảo trì đường sắt tốc độ cao sau khi được chuyển giao công nghệ.

Theo quy hoạch, tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam dài khoảng 1.541 km, điểm đầu tại ga Ngọc Hồi (Hà Nội), điểm cuối tại ga Thủ Thiêm (TPHCM), đi qua 15 tỉnh, thành phố sau sắp xếp đơn vị hành chính. Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,71 triệu tỷ đồng, tương đương 67,3 tỷ USD.

Mới đây, Thường trực Chính phủ yêu cầu Bộ Xây dựng chỉ đạo Ban Quản lý dự án đường sắt hoàn thành việc lựa chọn tư vấn quốc tế chậm nhất trong tháng 1 này. Việc lựa chọn công nghệ cho đường sắt tốc độ cao phải dựa trên rà soát toàn diện các tiêu chuẩn trong nước và quốc tế, kinh nghiệm của các quốc gia đi trước và điều kiện thực tiễn của Việt Nam; phải lựa chọn phương án phù hợp trong các loại hình như đường sắt chạy trên ray, đường sắt từ trường hoặc đường sắt ống từ trường.

Quá trình lựa chọn công nghệ được yêu cầu cân nhắc kỹ các yếu tố kinh tế - kỹ thuật, chính trị - ngoại giao, khả năng tự chủ và chuyển giao công nghệ; trường hợp cần cơ chế, chính sách đặc thù cho từng phương thức đầu tư, các đề xuất phải được đánh giá đầy đủ, công khai và minh bạch.