Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai dân tộc

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm vừa ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là thời điểm ghi dấu sự thay đổi trong tư duy lãnh đạo: văn hóa được xác định là động lực của phát triển chứ không còn đơn thuần là kết quả của phát triển như trong tư duy truyền thống.

Trụ cột mới cho phát triển bền vững

Việt Nam, với kho tàng di sản phong phú, nguồn lực nhân văn dồi dào và khát vọng phát triển đang bừng cháy, có đầy đủ điều kiện để đi vào con đường công nghiệp văn hóa

Ở nhiều quốc gia, công nghiệp văn hóa từ lâu đã không còn là phần phụ trợ của đời sống tinh thần, mà đã trở thành một trụ cột sức mạnh mềm, đồng thời là ngành kinh tế tạo ra doanh thu và ảnh hưởng quốc tế.

Hàn Quốc với chiến lược quốc gia về phát triển văn hóa từ những năm 1990, đến nay đã đạt nhiều thành tựu. Làn sóng Hallyu đưa văn hóa xứ kim chi phổ biến trên thế giới. Xuất khẩu nội dung văn hóa mang về 14,16 tỉ USD cho Hàn Quốc (số liệu năm 2024). Nhật Bản triển khai chương trình Cool Japan, biến anime, manga, game thành “hàng hóa mềm” chinh phục thế giới; riêng ngành nội dung ghi nhận khoảng 4,7 nghìn tỷ yen doanh thu ở thị trường nước ngoài.

Phát triển công nghiệp văn hóa góp phần quảng bá, lan tỏa các giá trị lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam

Tại Anh, công nghiệp sáng tạo đóng góp khoảng 124 tỷ bảng Anh/năm (khoảng 5,2% GDP đất nước này). Trong khi đó, Pháp đưa công nghiệp văn hóa và sáng tạo vào trục đối ngoại, coi đây là nguồn lực ảnh hưởng quốc tế; lĩnh vực này tạo gần 92 tỉ euro doanh thu và chiếm khoảng 2,3% GDP.

Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị đã xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành T.Ư Đảng tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, phần Xác lập mô hình tăng trưởng mới đã xác định phát triển “công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản”.

Dự thảo Chương trình hành động của Ban Chấp hành T.Ư Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu: “Xây dựng các chính sách đột phá, hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, bảo tồn và phát huy di sản và khuyến khích mạnh mẽ sự sáng tạo trong nghệ thuật, thiết kế, sản xuất nội dung số”.

Nhiều dự án văn hóa thành công, xét đến cùng, đều là kết quả của sự liên kết ba bên: Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo

Chiến lược nêu rõ, đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, đóng góp 7% GDP; lực lượng lao động tăng 10%/năm và chiếm 6% tổng lao động xã hội.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội coi Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một “cú hích”, nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và khai thác sức mạnh mềm văn hóa trong phát triển kinh tế quốc gia.

Ông Sơn cho rằng, với kho tàng di sản văn hóa phong phú và sức sáng tạo của con người Việt Nam, nếu được đầu tư bài bản và có chính sách sát sườn, công nghiệp văn hóa hứa hẹn sẽ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn đúng nghĩa trong tương lai gần.

Ngày 24/11 hằng năm được chọn là "Ngày Văn hóa Việt Nam", theo Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị. Ngày này, người lao động cả nước được nghỉ làm và được hưởng nguyên lương

Năng lượng sáng tạo mạnh mẽ từ nghệ sĩ

Từ thực tiễn theo dõi đời sống văn hóa và tham gia nhiều hoạt động nghiên cứu, nhà nghiên cứu Nguyễn Khoa (Viện Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc) cho rằng, tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam “đã nhìn thấy rất rõ”, thậm chí đang mở ra một “thời cơ vàng” nếu biết tổ chức đúng cách.

“Tôi quan sát trong nhiều năm, từ điện ảnh, âm nhạc đến lễ hội, thời trang, ẩm thực, ở đâu cũng có năng lượng sáng tạo rất mạnh, đặc biệt đến từ giới trẻ, từ doanh nghiệp tư nhân và cả các địa phương”, ông nói.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khoa, công nghiệp văn hóa không thể phát triển nếu chỉ trông vào ngân sách nhà nước hoặc các nỗ lực riêng lẻ, mạnh ai nấy làm của doanh nghiệp. Nhiều dự án văn hóa thành công, xét đến cùng, đều là kết quả của sự liên kết ba bên: Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng sáng tạo.

Vì vậy, ông đề xuất coi mô hình hợp tác công - tư là chìa khóa để mở rộng quy mô và nâng chất công nghiệp văn hóa. Trong mô hình này, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt thông qua việc xây dựng chính sách, quy hoạch hạ tầng văn hóa, tạo cơ chế thuận lợi và bảo đảm các yếu tố pháp lý, tài chính; doanh nghiệp tư nhân là lực lượng trực tiếp triển khai, đầu tư, khai thác và thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ văn hóa.

“Nếu không có một mô hình liên kết đủ chặt, ta sẽ mãi thấy tiềm năng mà không chạm được vào giá trị”, ông nhấn mạnh.

Nghị quyết 80 đặt mục tiêu xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số. Với giới nghệ sĩ, đây là những yêu cầu rất thực tế: họ mong sáng tạo không bị lấn át bởi sự độc hại, bôi nhọ, tranh cãi vô nghĩa, đồng thời thị hiếu công chúng được nâng đỡ bằng giáo dục nghệ thuật và giáo dục di sản.

“Là người làm nghề, tôi chờ nhất là cách văn hóa được đặt vào đúng “đường dài” của giáo dục. Khi nghị quyết nhấn mạnh 100% học sinh, sinh viên được tiếp cận thường xuyên các hoạt động nghệ thuật và giáo dục di sản, tôi thấy rất mừng.

Nghệ thuật muốn sống bền thì phải có công chúng, mà công chúng không tự nhiên mà có. Phải được nuôi bằng thói quen thưởng thức, bằng kiến thức thẩm mỹ, bằng khả năng hiểu giá trị văn hóa ngay từ trường học. Chỉ khi nền tảng công chúng đủ dày, nghệ sĩ sẽ bớt bị cuốn theo hiệu ứng ngắn hạn, bớt làm nghệ thuật kiểu “gây sốc để được chú ý”. Lúc ấy, tác phẩm mới có cơ hội đi sâu, đi xa và tồn tại lâu hơn một mùa mạng xã hội”, NSND Lệ Ngọc chia sẻ.

Ở tầng công nghiệp văn hóa, kỳ vọng tập trung vào luật chơi: bảo vệ quyền tác giả, minh bạch bản quyền, cơ chế đầu tư và hợp tác công tư, giảm rào cản thủ tục để sản phẩm văn hóa đi vào thị trường. Văn nghệ sĩ cũng chờ một hệ thống thiết chế văn hóa hoạt động thật, không chỉ có công trình mà phải có chương trình, có khán giả, có dòng chảy. Đặc biệt, cam kết bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa tạo thêm niềm tin, nhưng đi kèm một yêu cầu thực tế: nguồn lực phải đến đúng chỗ, tạo tác động dài hạn, chứ không dàn trải theo phong trào.

Trọng tâm phát triển con người

Nghị quyết 80-NQ/TW đặt trọng tâm phát triển con người như một “nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực, trụ cột, hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững, đồng thời yêu cầu các giá trị văn hóa “gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu” vào toàn bộ đời sống xã hội.

Nghị quyết xác định hướng đích là “hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa”, xây dựng môi trường văn hóa “nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại”, phát triển con người Việt Nam toàn diện trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến. “100% học sinh, học viên, sinh viên… được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa”.

Để hiện thực hóa những điều này, Nghị quyết yêu cầu lấy xây dựng nhân cách làm trọng tâm, định hướng giáo dục, văn hóa để phát triển toàn diện đức, trí, thể, mỹ, đặt giáo dục đạo đức và văn hóa lên hàng đầu từ mầm non, phối hợp gia đình, nhà trường, xã hội. Nghị quyết cũng nhấn mạnh bảo đảm quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hóa, tiếp cận bình đẳng, thu hẹp chênh lệch vùng miền và hỗ trợ nhóm yếu thế.