Khu tưởng niệm 64 Chiến sĩ Gạc Ma hy sinh ngày 14/3/1988 nằm ở bán đảo Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Bình minh nơi này vang lên tiếng chim hót líu lo, phảng phất hương hoa bàng vuông và tiếng gió khẽ như bước chân của các liệt sĩ. Cách đó không xa là khu tượng đài Cam Ranh với tấm bia 44 quân nhân Liên Xô.
Hồn trong hoa cỏ
Bình minh ở vùng cát trắng bán đảo Cam Ranh, ánh ban mai từ hướng quần đảo Trường Sa cùng gió biển rải trên con đường chạy xuyên qua trảng cát mênh mông. Khi qua Khu tượng đài tưởng niệm quân nhân Liên Xô, Nga và Việt Nam hy sinh vì hòa bình và ổn định khu vực, trong lòng tôi văng vẳng lời bài hát “Thời thanh niên sôi nổi” mà một thế hệ người Việt Nam thần tượng: “Dù sương, gió tuyết rơi/ Dù đêm vắng ngôi sao giữa trời”. Những người lính dù ở quốc gia nào, nhưng sự hy sinh cho Tổ quốc luôn trở thành ngôi sao bất tử trên bầu trời.
Từ bờ biển ở Khu tượng đài Chiến sĩ Gạc Ma nhìn ra hướng Đông là Hòn Mun, Hòn Tre, Hòn Tằm, Hòn Miêu, Hòn Yến. Cứ đến đây, đứng trước biển, tôi nhớ quay quắt và vẫn nghe văng vẳng bên tai mình giọng nói run run, chất chứa một nỗi quặn đau của Đại tá, cựu chiến binh Nguyễn Văn Dân, nguyên Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân. Ông nói nghẹn lời: “Anh em mình ngày ấy là lính công binh, không có súng ống, chỉ là xương là thịt, tuổi 19, 20, đã lấy thân mình ra giữ đảo...”. Ông Dân đã qua đời cách đây vài năm, nhưng từng lời nói của ông giống như thước phim mãi mãi nằm lại.
“Năm 2026 là năm có nhiều dấu mốc quan trọng như kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2026) và 80 năm Ngày Thể thao Việt Nam (27/3/1946 - 27/3/2026). Đồng thời, tháng 3 cũng gợi nhắc sự kiện Gạc Ma năm 1988, nơi 64 chiến sĩ hải quân đã hy sinh để bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc”.
Nhà báo Phùng Công Sưởng - Tổng Biên tập báo Tiền Phong, Trưởng Ban Tổ chức Giải Vô địch Quốc gia Marathon - Báo Tiền Phong, lần thứ 67 - năm 2026
Phần lớn những người đến thăm Khu tưởng niệm Chiến sĩ Gạc Ma đều mang theo những mảnh ghép về sự hy sinh và vòng tròn bất tử. Tôi nhớ những chuyến đi Trường Sa, trước giờ xuất hành và trong lễ tưởng niệm trên biển, người chủ lễ thường đọc những lời tưởng niệm da diết: “Kính mong các anh yên nghỉ trong bóng hình sóng nước, phù hộ cho thế hệ hôm nay và mai sau…”.
Ở những nghĩa trang liệt sĩ, nơi phần mộ các Anh hùng, nơi có hài cốt của những người đã hy sinh thường xuất hiện loại hoa dừa cạn và ong bướm suốt ngày rập rờn. Còn nơi này, hoa dừa cạn nở rộ bên cạnh tượng đài. Cựu chiến binh Tạ Quang Chung, người quản lý Khu tưởng niệm Chiến sĩ Gạc Ma ngắm trảng hoa dừa cạn trước tượng đài, ánh mắt trầm ngâm. Dù có thâm niên 36 năm quân ngũ, nhưng anh kể khá nhỏ giọt về đời lính của mình, giống như lời thơ của nhà báo Trần Tuấn: “Những người lính lái xuồng khắp đại dương Hoàng Sa, Trường Sa/ Tôi nhận thấy họ thường rất kiệm lời/ Như thể quen với nỗi cô đơn/ Của những đứa con thường xuyên rời xa tàu mẹ”...
Ðầy ắp hương đảo
Tôi cùng 2 người lính Biên phòng bước đi thật nhẹ, đốt nén hương trước cụm tượng đài “Những người nằm lại phía chân trời” với “Vòng tròn bất tử”. Một cơn mưa nhỏ rơi xuống bất chợt rồi lại tạnh ráo giống cơn mưa tôi từng gặp ở Thành cổ Quảng Trị trước giờ truy điệu. Tiếng mưa rơi lắc rắc trên những tán lá dày của cây tra gợi nhớ chuyện nhà báo Nguyễn Viết Thái từng ra Trường Sa năm 1988 kể, nghe mưa, lính đảo cười toe toét, quên hết mọi thứ căng thẳng, ai cũng ùa ra tắm mưa, la hét như những đứa trẻ vô tư.
Cây tra luôn thấp thoáng sau những tấm ảnh chụp ở Trường Sa cũng được trồng dọc theo lối đi lên tượng đài. Cư dân ở Trường Sa thường lấy lá tra non ăn với thịt, cá. Quả tra ra quanh năm được người ở đảo xem như nho Trường Sa. Cây tra luôn gắn với vùng biển đảo nhưng ít được nhắc tên. Ở quần đảo Thổ Chu, tỉnh An Giang, năm 1991, khi những cư dân đầu tiên trở lại để tham gia thành lập xã đảo Thổ Châu, chiều chiều mọi người đu lên những cây tra cổ thụ, dõi mắt về đất liền chờ mong thấy bóng những con tàu.
Anh Chung là người quản lý khu tưởng niệm nên đêm nào cũng nghe mùi hương hoa bàng vuông. Anh bước tới tấm bia, rà tay trên hàng quê quán của những người lính quê ở Đà Nẵng, Phú Yên, Nghệ An, Thanh Hóa… rồi dừng lại ở cái tên Thượng úy Phạm Gia Thiều, thuyền phó HQ 604, quê Nam Định và nói: “Đây là đồng hương của anh. Ngày 14/3/1988 nổ ra vụ Gạc Ma thì ngày 17/3 anh có mặt ở Cam Ranh, lúc đó mới 18 tuổi, cầu vai binh nhì, huấn luyện xong thì đánh kẻng báo động, tập trung quân số, thế là phần lớn đều ra Trường Sa, năm 1990, anh ra đảo Ba Kè 4 tháng tham gia xây dựng”.
Khu tưởng niệm Chiến sĩ Gạc Ma nằm ở bán đảo Cam Ranh, là nơi gần với Trường Sa nhất nếu tính từ đất liền. Có thể so sánh, đảo Lý Sơn ở tỉnh Quảng Ngãi cũng là điểm gần với quần đảo Hoàng Sa nhất. Năm 2016, Khu tượng đài Nghĩa sĩ Hoàng Sa cũng từng được khởi công, nhưng đến bây giờ vẫn còn là nền móng, còn ở Khu tưởng niệm Chiến sĩ Gạc Ma này, hàng năm có khoảng 50 ngàn lượt người đến viếng, thăm các anh.
Trên dải đất hình chữ S, có nhiều tượng đài thể hiện niềm vinh quang sau chiến thắng, còn tượng đài khắc họa 64 người lính Gạc Ma khắc họa nỗi đau. Tôi nhìn lên khuôn mặt của những người lính quay về hướng Tây và dễ dàng nhận ra đâu là người lính công binh giữ vai trò chính trị viên. Có một thế hệ người Việt Nam từng thần tượng Chính trị viên của Liên Xô là Vasily Klochkov với câu nói: “Nước Nga rộng lớn nhưng không còn chỗ để lùi”. Còn trong sự kiện Gạc Ma, Lữ đoàn phó, tham mưu trưởng Lữ đoàn 146 vùng 4 Hải quân Trần Đức Thông với câu nói: “Dù địch vây ép, dù mất tàu, chúng tôi quyết không lùi”.
Ðịa chỉ đỏ
Đọc lá thư của liệt sĩ Nguyễn Văn Phương đặt tại phòng trưng bày, cảm giác rất xúc động với sự hy sinh của người chiến sĩ mới 19 tuổi, bởi trong bức thư này có những dòng ghi chép giống như dự cảm sẽ không trở về nữa. Dự cảm này giống như liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, trong một lá thư, anh Thạc viết: “Ngày 30/4/1975 sẽ là ngày Như Anh và Thạc tìm được câu trả lời: Hạnh phúc là gì?...”.
Lướt qua những dòng ghi chép về năm sinh, quê quán của 64 liệt sĩ Gạc Ma, nhiều người lính đã nằm lại ở tuổi đôi mươi. Trung sĩ Nguyễn Văn Phương, quê ở tỉnh Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên), lúc hy sinh mới 19 tuổi. Hạ sĩ Lê Bá Giang, quê ở tỉnh Nghệ An, lúc hy sinh 20 tuổi. Binh nhì Nguyễn Hữu Lộc và binh nhất Nguyễn Phú Đoàn, quê ở thành phố Đà Nẵng đều hy sinh lúc 20 tuổi.
Các anh sẽ mãi mãi ở tuổi hai mươi, giống như bài thơ “For the fallen” được đọc ở các nghĩa trang khắp thế giới: “Họ sẽ không già đi như chúng ta, những người còn sống… Khi mặt trời lặn và lúc bình minh lên/ Chúng ta sẽ mãi nhớ về họ”.