Điểm sáng toàn cầu, áp lực phía trước
Kết quả tăng trưởng quý được đánh giá tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục bất ổn và nhiều rủi ro gia tăng. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng cao trong bối cảnh kinh tế và thương mại thế giới còn nhiều khó khăn, bất ổn. Kim ngạch xuất khẩu đạt 122,9 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước.
Thu hút FDI quý I ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, đạt 15,2 tỷ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, số vốn FDI đăng ký cấp mới đạt 10,23 tỷ USD với 904 dự án được cấp phép, tăng gấp 2,4 lần về số vốn đăng ký và tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước về số dự án.
Quý đầu năm, sản xuất công nghiệp tăng 9%, cao nhất 7 năm qua. 96 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 3 tháng. Dù vậy, số lượng rút lui cũng tiệm cận, với 91,8 nghìn doanh nghiệp
Đáng chú ý, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 tăng 1,23% so với tháng trước, do giá xăng dầu trong nước tăng cao theo giá nhiên liệu thế giới, cùng với giá vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào và vận chuyển gia tăng. So với tháng 12/2025, CPI tháng 3 tăng 2,44% và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng CPI cao nhất của tháng 3 so với cùng kỳ năm trước trong 5 năm qua.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Bích Lâm nhận định, bước sang năm 2026, kinh tế toàn cầu chưa kịp ổn định sau chu kỳ thắt chặt tiền tệ đã phải đối mặt với cú sốc mới từ xung đột tại Trung Đông.
Với nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, các cú sốc này truyền dẫn nhanh vào trong nước thông qua giá nhập khẩu, chi phí đầu vào và nhu cầu thị trường quốc tế. Biến động bên ngoài không chỉ làm tăng chi phí, mà còn làm suy yếu cả hai động lực tăng trưởng then chốt của kinh tế nước ta đó là xuất khẩu và tiêu dùng.
Bức tranh kinh tế quý I phản ánh sự đan xen rõ nét giữa các yếu tố tích cực như: Sản xuất, đầu tư, thương mại tiếp tục tăng trưởng; doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng mạnh; dòng vốn FDI duy trì tích cực. Một số rủi ro của nền kinh tế cũng bộc lộ: Áp lực chi phí và lạm phát gia tăng; tổng cầu tiêu dùng trong nước phục hồi chậm; nhập siêu quay trở lại; phụ thuộc vào khu vực FDI ngày càng lớn; hiệu ứng lan tỏa của đầu tư công suy giảm.
Diễn biến giá tiêu dùng trong quý I cũng phản ánh áp lực lạm phát đang quay trở lại. Chỉ số CPI tháng 3 tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng tương đối cao, kéo CPI bình quân quý tăng 3,51%.
Ông Lâm khuyến nghị, trong bối cảnh lạm phát chi phí đẩy, giảm chi phí sản xuất quan trọng hơn kích cầu tiêu dùng. Giảm chi phí cho doanh nghiệp cần trở thành giải pháp trọng tâm, thông qua giảm thuế, phí, chi phí logistic và chi phí vốn.
Phấn đấu tăng trưởng trên 10,5%
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh - Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê, Bộ Tài chính - nhận định, quý I vừa qua, nền kinh tế ghi nhận mức tăng trưởng GDP khá tích cực, điểm sáng trên bản đồ tăng trưởng thế giới, nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu theo kịch bản đề ra là 9,1%. Tăng trưởng của hai khu vực là công nghiệp và xây dựng, dịch vụ đều chưa đạt mục tiêu kế hoạch.
Theo bà Hạnh, việc không đạt mục tiêu do cộng hưởng cả áp lực bên ngoài và năng lực hấp thu nội tại còn hạn chế. Cụ thể, các rào cản thương mại mới và biến động tỷ giá, lãi suất toàn cầu đã đẩy chi phí đầu vào lên cao, trực tiếp làm hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu.
Trong khi đó, khu vực tư nhân chưa kịp hấp thụ vốn hiệu quả và các dự án đầu tư công trọng điểm vẫn đang ở giai đoạn khởi động, chưa tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ lên giá trị gia tăng toàn nền kinh tế.
“Tăng trưởng hai con số là mục tiêu đầy thách thức, mang tính lịch sử, nhưng nếu các động lực tăng trưởng được kích hoạt mạnh mẽ và đồng bộ trong các quý còn lại, chúng ta vẫn có cơ sở để bám sát mục tiêu tăng trưởng đã đề ra. Để bù đắp phần thiếu hụt của quý I và hướng tới mục tiêu tăng trưởng cả năm theo Nghị quyết 01, nền kinh tế phải rất nỗ lực trong các quý sau, tăng trưởng trên 10,5%”, bà Hạnh tính toán.
Kịch bản trên kỳ vọng dựa trên sự tăng tốc của xuất khẩu, phục hồi mạnh mẽ của sức mua nội địa, cùng với đóng góp ngày càng rõ nét của các lĩnh vực kinh tế mới. Đồng thời, cần tháo gỡ triệt để các rào cản pháp lý, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và khơi thông hiệu quả dòng vốn đầu tư tư nhân. Ngoài ra, xung đột Trung Đông phải sớm chấm dứt và giá dầu bình ổn trở lại cũng là điều kiện cần để đảm bảo tăng trưởng kinh tế có thể tiệm cận mục tiêu đặt ra.
Về động lực chính để đạt mục tiêu tăng trưởng quý II và cả năm, bà Hạnh nhấn mạnh một số yếu tố then chốt. Đầu tư công tiếp tục là vốn mồi dẫn dắt năng lực sản xuất dài hạn. Năm 2026, đầu tư công tập trung vào các siêu dự án hạ tầng như Sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc, cụm đường vành đai, cao tốc, Khu đô thị thể thao Olympic… tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh. Đây không chỉ là chi tiêu Chính phủ đơn thuần mà là quá trình tích lũy sản xuất cho nền kinh tế, giúp giảm chi phí logistics, kích thích dòng vốn FDI và đầu tư tư nhân vào các khu vực vệ tinh quanh hạ tầng mới.
Tiêu dùng nội địa dự báo cải thiện nhờ chính sách cải cách tiền lương và các chính sách kích cầu tiêu dùng của các địa phương. Sức mua của thị trường hơn 100 triệu dân được kích hoạt sẽ tạo động lực cho dịch vụ, lưu trú, ăn uống và thương mại điện tử, đảm bảo vòng xoáy kinh tế nội địa không bị đình trệ khi xuất khẩu gặp khó.
Bên cạnh đó, việc chủ động sử dụng công cụ thuế xăng dầu và Quỹ bình ổn giá được coi là “van an toàn” ngăn chặn lạm phát chi phí đẩy, qua đó hỗ trợ biên lợi nhuận cho doanh nghiệp vận tải và sản xuất, bảo vệ sức mua của người dân và sự ổn định vĩ mô.