Thực hiện cam kết WTO:

Lúng túng trong cấp phép đầu tư nước ngoài

TP - Trong hai ngày 7 và 8/12, tại TPHCM đã diễn ra nhiều hội nghị phổ biến các cam kết WTO của Việt Nam cũng như những tác động của WTO đến hệ thống pháp luật Việt Nam.
Giai đoạn đầu gia nhập WTO, Việt Nam lúng túng trong cấp phép đầu tư nước ngoài

Nhiều vấn đề mới phát sinh đang được các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp quan tâm. 

“Vấn đề nổi cộm hiện nay là việc cấp phép cho các dự án đầu tư nước ngoài, nên thực hiện theo chính sách hiện hành của Việt Nam hay giữ đúng như cam kết WTO?”- ông Trần Quốc Khánh- Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại Đa biên (Bộ Thương mại) băn khoăn đặt vấn đề khi đăng đàn.

Ông Khánh nói: Những quy định trong việc cấp phép đầu tư nước ngoài của chúng ta hiện nay có những điểm thoáng hơn so với cam kết WTO. Nếu cấp phép theo chính sách hiện hành, dù chỉ là một dự án, vô hình trung chúng ta vô hiệu hoá toàn bộ những gì đã cam kết với WTO.

Vì không được phép phân biệt đối xử nên đã “mở” cho dự án này, của nước này thì cũng phải “mở” cho dự án khác của các nước thành viên WTO khác. Ngược lại, nếu tuân thủ đúng theo cam kết WTO thì vô tình ta lại tự “khép” môi trường đầu tư vốn thông thoáng của mình.

Vấn đề băn khoăn thứ hai, theo ông Khánh là tình trạng “xôi đỗ” trong các cam kết. Ví dụ, việc cấp phép kinh doanh vận tải đường bộ, từ 1/1/2007 cho phép thành lập các liên doanh với 51% vốn đầu tư nước ngoài; nhưng phải 5 năm nữa mới cho phép thành lập liên doanh đại lý giao nhận vận tải có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong khi đó, hai lĩnh vực gần như phải song hành cùng nhau. “Đây là cái vướng”- ông Khánh nói, đồng thời cho biết sở Kế hoạch- Đầu tư các tỉnh thành đang rất bối rối về điều này. Nếu không sớm có sự thống nhất từ trung ương đến địa phương và mỗi nơi làm một kiểu thì ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đầu tư.

Về quyền nhập khẩu và phân phối của DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) được các DN FDI đặc biệt quan tâm. Ông Trần Quốc Khánh giải thích: Từ 1/1/2007, các DN FDI được phép nhập khẩu, tuy nhiên không được quyền tổ chức hệ thống phân phối trong nước.

Tức là, khi nhập hàng hoá về, các DN FDI phải bán lại cho các DN khác có chức năng phân phối.  Nếu nhà nhập khẩu (DN FDI) đã có quyền phân phối trong nước thì không cần phải bán lại cho DN khác mà tự “bán” cho mình.

Ví dụ một DN FDI nhập khẩu điện thoại di động (ĐTDĐ) thì không cần phải bán cho DN khác mà có thể tự phân phối vì theo cam kết về quyền kinh doanh, các DN FDI không bị hạn chế quyền nhập khẩu, phân phối ĐTDĐ.

Ông Khánh cũng cho biết, quyền nhập khẩu của DN FDI có hai danh mục hàng khống chế. Danh mục thứ nhất áp dụng chung cho các DN FDI và DN trong nước.

Khi vào WTO, Việt Nam cam kết một số mặt hàng có duy trì chế độ thương mại nhà nước (DN thương mại nhà nước trong cam kết WTO không có nghĩa là DN quốc doanh, mà dùng để chỉ các DN được nhà nước trao độc quyền hoặc ủy quyền, và nó có thể là DN tư nhân), ví dụ xăng dầu, báo và tạp chí…

Với những mặt hàng đó, tất cả các DN FDI cũng như DN 100% vốn Việt Nam đều không được phép nhập khẩu ngoài những DN được nhà nước trao độc quyền.

Thứ hai là danh mục hạn chế quyền nhập khẩu của các DN FDI thì phải sau một thời gian chuyển đổi trước khi trao quyền nhập khẩu, ví dụ như dược phẩm. Ngoài hai hạn chế đó, kể từ 1/1/2009, các DN FDI được quyền nhập khẩu như DN Việt Nam.