Khẩn cấp hồi sinh kênh Bắc Hưng Hải: Đừng chỉ nạo vét và bổ cập nước

Theo TS Hoàng Dương Tùng, nguyên Phó Tổng cục Tổng cục Môi trường, việc Bắc Hưng Hải vẫn là dòng kênh chết nhiều năm qua không vì thiếu giải pháp mà thiếu một hệ thống quản trị đủ mạnh để biến các giải pháp đó thành kết quả thực tế. Ông đề xuất một mô hình quản trị lưu vực hiệu quả, dựa trên dữ liệu, trách nhiệm rõ ràng và cơ chế thực thi đủ mạnh. 

Ba mục tiêu quan trọng nhất

Thưa ông, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương đang lên phương án xử lý ô nhiễm môi trường hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, đồng thời thảo luận định hướng phát triển tổng thể theo hướng hiện đại, đa mục tiêu và bền vững, theo ông đâu là những mục tiêu quan trọng nhất cần đặt ra khi thực hiện đề án hồi sinh kênh thuỷ lợi này?

TS Hoàng Dương Tùng: Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng gần 70 năm trước và là một trong những công trình thủy lợi lớn nhất miền Bắc, đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với tưới tiêu nước, sản xuất nông nghiệp và đời sống của hàng triệu người dân tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng (Hải Dương cũ). Khác với sông ngòi tự nhiên có dòng chảy liên tục và khả năng tự làm sạch cao, Bắc Hưng Hải là một hệ thống kênh nhân tạo được điều tiết bằng công trình thủy lợi, dòng chảy yếu và thời gian lưu nước dài. Chính những đặc điểm này khiến hệ thống dễ bị tích tụ ô nhiễm.

TS Hoàng Dương Tùng, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường.

Trong nhiều năm gần đây, hệ thống đang đối mặt với hai thách thức lớn. Thứ nhất, nguồn nước bổ cập từ sông Hồng đã giảm mạnh, hiện chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu.

Thứ hai, chất lượng nước của hệ thống đang bị suy giảm nghiêm trọng do việc tiếp nhận một lượng lớn nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý (chiếm khoảng 60% tổng lượng ô nhiễm), cùng với nước thải từ khu công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi và y tế. Dễ dàng nhận thấy khi lượng nước ít mà tải lượng ô nhiễm lớn, hệ thống kênh rất dễ rơi vào tình trạng tù đọng, thiếu oxy và suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước.

Trong bối cảnh đó, theo tôi, đề án hồi sinh Bắc Hưng Hải cần tập trung vào ba mục tiêu quan trọng.

Thứ nhất, phục hồi chất lượng nước và chấm dứt tình trạng “kênh đen, kênh chết”. Cần đặt mục tiêu chất lượng nước theo từng đoạn kênh hoặc tiểu lưu vực và theo mùa (mùa mưa, mùa kiệt), đồng thời thiết lập các ngưỡng cảnh báo để theo dõi và điều hành.

Chất lượng nước phải được coi là “điều kiện nền” để hệ thống có thể thực hiện đồng thời các chức năng tưới tiêu, duy trì hệ sinh thái và bảo đảm an toàn môi trường.

Thứ hai, khôi phục đầy đủ chức năng thủy lợi của hệ thống, bao gồm tưới, tiêu thoát và duy trì dòng chảy tối thiểu để tự làm sạch. Trong điều kiện nguồn nước bổ cập hạn chế, việc vận hành các công trình thủy lợi cần gắn với mục tiêu chất lượng nước, không chỉ dựa vào các yếu tố thủy văn như trước đây.

Thứ ba, kiểm soát hiệu quả các nguồn thải và thiết lập cơ chế quản trị theo lưu vực. Hệ thống Bắc Hưng Hải trải rộng trên nhiều địa phương, vì vậy việc quản lý cần dựa trên tiểu lưu vực và đoạn kênh, có sự phối hợp liên tỉnh chặt chẽ để bảo đảm các mục tiêu môi trường được thực hiện đồng bộ.

Tình trạng ô nhiễm tại kênh thuỷ lợi lớn nhất miền Bắc kéo dài trong nhiều năm qua. Ảnh: Trọng Tài.

Nạo vét hay bổ cập nước chỉ có tác dụng tạm thời

Việc hồi sinh các dòng sông kênh là một nhiệm vụ rất khó khăn, thách thức, tốn kém, không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới. Với hệ thống kênh thuỷ lợi Bắc Hưng Hải, theo ông đâu là những khó khăn, thách thức lớn nhất mà chúng ta cần phải nhận diện và tìm giải pháp?

TS Hoàng Dương Tùng: Việc hồi sinh các dòng sông và hệ thống kênh bị ô nhiễm là một nhiệm vụ rất khó khăn, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, theo tôi, nguyên nhân gốc gác khiến chất lượng nước của hệ thống Bắc Hưng Hải chưa cải thiện bền vững trong nhiều năm qua không nằm ở chỗ thiếu giải pháp kỹ thuật, mà là thiếu một hệ thống quản trị đủ mạnh để biến các giải pháp đó thành kết quả thực tế.

Trong thời gian dài, các biện pháp xử lý ô nhiễm chủ yếu mang tính chiến dịch hoặc tập trung vào các điểm nóng, trong khi tải lượng ô nhiễm đầu vào của hệ thống chưa giảm đáng kể. Khi nguồn thải vẫn tiếp tục đổ vào kênh, các biện pháp cải tạo như nạo vét hay bổ cập nước chỉ có tác dụng tạm thời và ô nhiễm có thể nhanh chóng quay trở lại.

Một thách thức lớn khác là sự chia cắt trong quản lý theo địa giới hành chính. Hệ thống Bắc Hưng Hải trải qua nhiều tỉnh, nhưng cơ chế điều phối liên vùng chưa thực sự hiệu quả, dẫn tới khó xác định rõ trách nhiệm đối với từng đoạn kênh và từng nguồn thải.

Bên cạnh đó, hệ thống giám sát và dữ liệu môi trường vẫn còn phân tán, chưa được sử dụng như một công cụ điều hành. Việc thanh tra, kiểm tra chủ yếu vẫn dựa trên các đợt kiểm tra định kỳ, trong khi nhiều nguồn xả thải biến động theo thời gian và theo mùa.

Một vấn đề khác là cơ chế tài chính cho vận hành và bảo trì hệ thống chưa bền vững. Trong nhiều trường hợp, nguồn lực được tập trung cho xây dựng hạ tầng, nhưng chưa bảo đảm đủ nguồn lực để duy trì vận hành ổn định trong dài hạn.

Tóm lại, thách thức lớn nhất không chỉ là xử lý ô nhiễm hiện tại, mà là xây dựng một mô hình quản trị lưu vực hiệu quả, dựa trên dữ liệu, trách nhiệm rõ ràng và cơ chế thực thi đủ mạnh.

Hiện trạng ô nhiễm nghiêm trọng của kênh Bắc Hưng Hải.

Đề xuất mô hình quản trị với 6 trụ cột

Từ các thách thức và khó khăn đặt ra, theo ông, chúng ta cần có các giải pháp nào để có thể thực hiện được nhiệm vụ hồi sinh hệ thống kênh thuỷ lợi mang tính biểu tượng này?

TS Hoàng Dương Tùng: Theo tôi, việc hồi sinh hệ thống Bắc Hưng Hải cần bắt đầu bằng một thay đổi quan trọng trong tư duy quản lý với lộ trình rõ ràng. Rất cần chuyển từ cách quản lý theo chiến dịch sang một hệ thống quản trị thông minh cho toàn lưu vực Bắc Hưng Hải.

Đó không chỉ là lắp thêm thiết bị quan trắc hay áp dụng công nghệ số, mà là xây dựng một mô hình quản lý theo lưu vực thay vì xử lý từng điểm ô nhiễm theo chiến dịch, trong đó các nguồn thải được kiểm soát ngay từ nguồn trên thực tế và trên bản đồ, các địa phương có trách nhiệm rõ ràng theo từng đoạn kênh và việc điều hành hệ thống dựa trên dữ liệu và mục tiêu chất lượng nước cụ thể.

Có thể hình dung mô hình này với 6 trụ cột chính:

Một là, quản trị theo lưu vực thay vì theo địa giới hành chính. Bắc Hưng Hải cần một cơ chế điều phối thống nhất cho toàn hệ thống, vì kênh đi qua nhiều tỉnh và ô nhiễm thường phát sinh ở thượng nguồn nhưng ảnh hưởng đến hạ lưu. Trong mô hình này hệ thống được chia thành các tiểu lưu vực hoặc các đoạn kênh quản lý, và mỗi đoạn kênh có đơn vị chịu trách nhiệm rõ ràng qua KPI về chất lượng nước.

Hai là, quản lý nguồn thải dựa trên bản đồ và dữ liệu. Cần lập bản đồ đầy đủ các nguồn thải và cửa xả vào hệ thống trên nền tảng GIS (hệ thống thông tin địa lý). Nhờ đó có thể biết: nguồn ô nhiễm nằm ở đâu, tải lượng ô nhiễm đi vào từng đoạn kênh, khu vực nào cần ưu tiên xử lý trước. Đây là nền tảng để chuyển từ quản lý cảm tính sang quản lý dựa trên bằng chứng.

Ba là, kiểm soát tải lượng ô nhiễm thay vì chỉ kiểm soát nồng độ. Trong điều kiện phát triển các thiết bị đo lường như hiện nay, cần mở rộng các cơ sở sản xuất phải lắp đặt các đồng hồ đo lưu lượng (nước cấp và nước thải) ngoài các nguồn thải lớn phải lắp thiết bị quan trắc tự động và đo lưu lượng xả. Đối với các nguồn nhỏ và phân tán, có thể quản lý theo cụm hoặc theo tiểu lưu vực thay vì quản lý từng hộ riêng lẻ. Cách tiếp cận này giúp cơ quan quản lý biết mỗi ngày bao nhiêu ô nhiễm thực sự đi vào kênh, từ đó đặt mục tiêu giảm tải lượng theo từng giai đoạn.

Bốn là, đối với nước thải sinh hoạt, nguồn ô nhiễm lớn nhất cần kết hợp hạ tầng xử lý tập trung và phân tán theo tiểu lưu vực, bao gồm xây dựng mạng thu gom tại các điểm xả lớn, kết hợp nhà máy xử lý tập trung và các trạm xử lý phân tán. Mô hình này phù hợp với đặc điểm dân cư phân tán quanh hệ thống kênh.

Năm là, cần xây dựng hệ thống giám sát và cảnh báo dựa trên dữ liệu, bao gồm các điểm quan trắc trên kênh trục và tại các cửa xả chính. Trong hệ thống thủy lợi có dòng chảy yếu như Bắc Hưng Hải nên coi NH₄-N là chỉ tiêu ưu tiên cùng với một số thông số khác như COD, tổng Nitơ, tổng Photpho để kiểm soát chất lượng nước (nhiều nước châu Á dùng NH₄-N như “chỉ tiêu điều hành”). Ngoài việc có nhiều thiết bị đo NH₄-N tự động/đo nhanh, việc theo dõi NH₄-N giúp phát hiện nhanh nguồn xả thải sinh hoạt, cảnh báo sớm nguy cơ nước đen và mùi hôi, đánh giá hiệu quả các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và hỗ trợ điều hành hệ thống kênh.

Sáu là, điều hành hệ thống thủy lợi gắn với mục tiêu chất lượng nước. Bắc Hưng Hải không chỉ là hệ thống thoát nước mà còn là hệ thống tưới tiêu. Vì vậy cần vận hành cống, trạm bơm, hồ điều hòa theo cả mục tiêu thủy lợi và môi trường trong mùa mưa và mùa kiệt nhằm vừa duy trì lưu thông dòng nước bảo đảm tiêu thoát nước, vừa duy trì dòng chảy tự làm sạch, hạn chế tình trạng tù đọng gây ô nhiễm.

Đoạn kênh Bắc Hưng Hải chảy qua địa phận huyện Gia Lâm cũ (Hà Nội).

Nếu nhìn dưới góc độ triển khai, việc phục hồi chất lượng nước của Bắc Hưng Hải cần được thực hiện theo một lộ trình cụ thể, trong đó có những việc có thể làm ngay để giảm nhanh tải lượng ô nhiễm, đồng thời triển khai các giải pháp căn cơ hơn cho trung và dài hạn.

Trong giai đoạn đầu, cần tập trung kiểm soát chặt các nguồn thải lớn như khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất, vì số lượng không nhiều và có thể giảm nhanh một phần đáng kể tải lượng ô nhiễm nếu được giám sát và quản lý tốt.

Song song với đó, cần khởi động đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tại các đô thị và khu dân cư có lượng xả thải lớn. Trong giai đoạn tiếp theo, từng bước mở rộng mạng lưới thu gom và các công trình xử lý nước thải sinh hoạt, bao gồm cả các mô hình xử lý tập trung và phân tán. Về lâu dài, cần kết hợp các giải pháp quản lý nguồn thải với điều hành thủy lợi hợp lý nhằm tăng khả năng lưu thông và tự làm sạch của hệ thống kênh.

Tóm lại, nếu xây dựng được một mô hình quản trị lưu vực dựa trên dữ liệu, trách nhiệm rõ ràng và kiểm soát nguồn thải ngay từ đầu vào thì tôi tin rằng hệ thống Bắc Hưng Hải hoàn toàn có thể được phục hồi và trở thành một mô hình quản lý thủy lợi – môi trường hiện đại của vùng đồng bằng sông Hồng.

Cảm ơn ông!

Hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải được xây dựng từ năm 1958 với chiều dài hơn 232km từng là công trình đại thủy nông lớn nhất miền Bắc, cung cấp nước tưới, tiêu úng cho nhiều địa phương như Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên và Hà Nội. Tuy nhiên, sau nhiều thập kỷ khai thác, hệ thống đang đối mặt tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng do nước thải sinh hoạt, làng nghề và khu công nghiệp.

Trước tình trạng này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất Chính phủ đưa dự án xử lý ô nhiễm Bắc Hưng Hải vào danh mục cấp bách, với tổng kinh phí dự kiến khoảng 38.500 tỷ đồng, chưa bao gồm chi phí giải phóng mặt bằng và chỉnh trang.