Di sản đồ sộ nhưng người đọc ngày càng hiếm
Những ngày đầu năm, nhiều người đổ về đình, chùa, đền miếu đông như trẩy hội. Tại nhiều di tích, du khách chăm chú ngắm nhìn những câu đối đỏ, hoành phi sơn son thếp vàng, những tấm bia đá khắc chữ cổ… Song, không phải ai cũng hiểu nội dung phía sau các dòng chữ ấy.
Tại chùa Tam Chúc (Ninh Bình), Nguyễn Hoàng Nam (24 tuổi, nhân viên thiết kế đồ họa) đứng khá lâu trước bức hoành phi lớn. Nam dùng điện thoại tra cứu từng chữ nhưng chỉ nhận được những kết quả rời rạc. “Em thấy chữ rất đẹp, rất trang nghiêm, nhưng thực sự không hiểu hết nội dung. Cảm giác như đứng trước một kho tư liệu quý mà mình không đủ khả năng đọc”, Nam chia sẻ.
Việt Nam hiện còn một khối lượng lớn tư liệu Hán Nôm trải dài qua nhiều thế kỷ, từ bia đá, mộc bản, sắc phong, châu bản cho tới gia phả, thần tích, địa bạ. Phần lớn các tài liệu này được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bên cạnh hàng vạn văn bản vẫn nằm rải rác trong đình chùa, dòng họ và các thiết chế văn hóa ở nhiều địa phương.
Những văn bản ấy được xem là “kho ký ức” của lịch sử Việt Nam, chứa đựng thông tin về tổ chức hành chính, chủ quyền lãnh thổ, đời sống văn hóa, tín ngưỡng và cấu trúc xã hội của các làng xã truyền thống. Tuy nhiên, để đọc và hiểu được nguồn tư liệu này không hề đơn giản.
Người học Hán Nôm không chỉ cần biết chữ Hán hiện đại mà còn phải nắm được Hán cổ, văn ngôn, các dạng chữ Nôm phức tạp, hệ thống điển cố, ngữ âm lịch sử và phương pháp văn bản học. Quá trình đào tạo đòi hỏi nhiều năm tích lũy, từ việc nhận diện chữ cổ cho tới khả năng dịch nghĩa và chú giải văn bản.
Hiện nay, việc đào tạo chuyên ngành Hán Nôm chủ yếu tập trung tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM. Tuy nhiên, số sinh viên theo học mỗi khóa khá khiêm tốn, nhiều lớp chỉ vài chục người, thậm chí có năm tuyển sinh rất ít. Sự thưa vắng trong giảng đường tương phản với khối di sản đồ sộ vẫn đang chờ được giải mã.
Ngành học “kén người” trong thời đại thực dụng
Hán Nôm từ lâu được xem là ngành học “kén người”, nhưng sự kén chọn ấy không chỉ đến từ độ khó của chuyên môn.
Trước hết là câu chuyện đầu ra nghề nghiệp. Sinh viên tốt nghiệp chủ yếu làm nghiên cứu, giảng dạy hoặc công tác tại các viện nghiên cứu, thư viện, bảo tàng và một số cơ quan văn hóa. Những cơ hội việc làm ngoài khu vực học thuật khá hạn chế, khiến nhiều người trẻ cân nhắc khi lựa chọn ngành học này.
Một yếu tố khác là thu nhập và đãi ngộ chưa thực sự hấp dẫn so với nhiều ngành nghề khác. Trong bối cảnh thị trường lao động cạnh tranh và chi phí sinh hoạt ngày càng cao, việc theo đuổi một ngành học đòi hỏi thời gian tích lũy dài nhưng cơ hội nghề nghiệp hẹp trở thành quyết định khó khăn đối với nhiều sinh viên.
Bên cạnh đó, vị thế xã hội của ngành Hán Nôm cũng chưa được nhìn nhận tương xứng với giá trị của nó. Trong con mắt của không ít người trẻ, đây vẫn là một lĩnh vực quá “cổ điển”, gắn với nghiên cứu hàn lâm hơn là đời sống hiện đại. Điều này khiến ngành học dù có giá trị văn hóa sâu sắc nhưng lại thiếu sức hút trong bối cảnh xã hội ngày càng thực dụng.
Khoảng trống thế hệ
Một vấn đề đáng chú ý là khoảng trống thế hệ đang dần xuất hiện trong đội ngũ nghiên cứu Hán Nôm. Nhiều chuyên gia đầu ngành hiện nay đã ở tuổi cao hoặc nghỉ hưu, trong khi lực lượng kế cận chưa thật sự đông đảo.
Đào tạo một nhà nghiên cứu Hán Nôm không thể diễn ra trong thời gian ngắn. Để đạt tới trình độ đọc hiểu, phiên âm và chú giải thành thạo văn bản cổ, người học cần nhiều năm rèn luyện và tiếp xúc trực tiếp với tư liệu gốc. Vì vậy, nếu không có lớp kế cận đủ mạnh, việc khai thác khối di sản Hán Nôm đồ sộ sẽ gặp nhiều khó khăn trong tương lai.
Trong những năm gần đây, nhiều dự án số hóa tư liệu Hán Nôm đã được triển khai nhằm bảo tồn và mở rộng khả năng tiếp cận. Tuy nhiên, công nghệ chỉ giúp lưu trữ và chia sẻ tài liệu, còn việc đọc, dịch và phân tích nội dung vẫn phụ thuộc vào các nhà nghiên cứu được đào tạo bài bản.
Chính vì vậy, bài toán nhân lực trẻ cho ngành Hán Nôm không chỉ là vấn đề của một chuyên ngành hẹp trong giới học thuật. Nó liên quan trực tiếp đến khả năng bảo tồn, khai thác và hiểu đúng di sản lịch sử của dân tộc. Trong tiến trình hội nhập sâu rộng, năng lực giải mã di sản không phải lựa chọn mang tính cảm tính hay hoài niệm, mà là yêu cầu mang tính chiến lược. Giữ được chìa khóa đọc quá khứ cũng chính là giữ được quyền chủ động định nghĩa bản sắc của mình trong hiện tại và tương lai.
“Hán Nôm học không phải là sự quay lại quá khứ theo nghĩa hoài cổ. Đây là lĩnh vực khoa học liên ngành, cung cấp phương pháp đọc, khảo cứu, phiên dịch và thẩm định văn bản cổ. Nhiều công trình sử học và văn hóa học hiện đại dựa trên nền tảng này. Các học giả như Đào Duy Anh, Trần Quốc Vượng đã sử dụng Hán Nôm như một công cụ khoa học để xây dựng những hệ thống nghiên cứu có giá trị lâu dài. Nhiều người hỏi em học cái này để làm gì giữa thời đại 4.0, nhưng với em, Hán Nôm là mã nguồn của văn hóa Việt. Khi biết đọc nguyên bản một tờ sắc phong hay một tấm bia đá, em thấy lịch sử không còn là những con số vô tri, mà là những câu chuyện sống động đang thì thầm với mình” - Lê Bình (sinh viên năm cuối chuyên ngành Hán Nôm, trường Khoa học xã hội và Nhân văn).
"Hán Nôm vẫn giữ tầm quan trọng trong xã hội hiện đại, vì giúp gìn giữ và giải đọc các tư liệu tổ tiên để lại, qua đó bảo tồn và hiểu đúng lịch sử, văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh chuyển sang chữ Quốc ngữ, nguy cơ đứt gãy với nền tảng tri thức truyền thống là hiện hữu, nên việc học Hán Nôm là cần thiết để kết nối với mạch nguồn dân tộc. “Xã hội nhìn nhận đó là “di sản”. Theo tôi như thế cũng đúng, nhưng chưa đủ. Tư liệu Hán Nôm không chỉ là “di sản” (heritage), mà còn là “tài sản” (property). Di sản để gìn giữ và chiêm ngưỡng về quá khứ. Còn tài sản thì có thể tạo ra giá trị mới về văn hóa, xã hội, học thuật và cả giá trị kinh tế cho hiện tại và tương lai”, PGS.TS Nguyễn Tuấn Cường (cựu Viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm - thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam).