Trầm tổ, của để dành
Những ngày giáp Tết, tiếng đục, tiếng đẽo vẫn vang lên đều đặn ở xã Phúc Trạch, nơi được xem là “thủ phủ” dó trầm của Hà Tĩnh. Trong những ngôi nhà thấp thoáng dưới tán dó bầu, hương trầm dìu dịu quyện trong gió đông, thứ hương khó lẫn với bất cứ miền quê nào khác. Từ ngoài đường nhìn vào, những thân cây cao lớn vươn mình giữa sân nhà như những chiếc ô xanh mát. Tán lá xòe rộng, che dịu cả một góc vườn. Lớp vỏ xù xì ôm lấy thân cây vạm vỡ, trầm mặc qua năm tháng. Người làng trìu mến gọi đó là “trầm chúa”, “trầm tổ”, xem như “của để dành” mà đất trời và con người cùng chắt chiu gìn giữ.
Trở về Phúc Trạch hôm nay, khó ai còn nhận ra một vùng quê từng gắn với cái nghèo, cái cằn cỗi năm nào. Từ nghề trồng dó bầu, chế tác trầm hương, cuộc sống người dân dần khởi sắc. Nhiều mái nhà mới mọc lên, xe ô tô đỗ trước sân, con cái được ăn học đến nơi đến chốn. Mảnh đất từng khô khát nay như được đánh thức, khoác lên diện mạo tươi tắn, đủ đầy hơn.
Ở đây, tấc đất được nâng niu như tấc vàng. Hiếm thấy một khoảnh vườn nào bị bỏ hoang, bởi mỗi khoảng đất đều được ươm trồng, nuôi dưỡng những thân dó bầu. Điều đặc biệt, với người dân Phúc Trạch, của cải không chỉ được đong đếm bằng tiền bạc, mà tài sản quý giá nhất chính là những gốc dó trầm cổ thụ đã bám rễ qua bao thế hệ.
Gia đình ông Sánh ở xã Phúc Trạch có nhiều gốc trầm quý, trong đó có những cây đã gắn bó hàng chục năm. Có cây cao hơn 20 mét, thân lớn đến mức hai người ôm mới xuể.
“Nhiều người bảo tôi bán cây đi. Tôi cũng đắn đo, có tiền thì vui thật, nhưng mất cây rồi thì không thể có lại được. Một cây dó bầu phải mất hàng chục năm mới lớn, phải hội đủ nhiều yếu tố tự nhiên, thổ nhưỡng, khí hậu, thời gian… mới tạo được trầm, khi có trầm bán mới giá trị”, ông Sánh chia sẻ.
Không chỉ gia đình ông Sánh, nhiều hộ dân tại xã Phúc Trạch sở hữu gốc trầm cổ thụ cũng được thương lái trong và ngoài tỉnh tìm đến trả giá 250-300 triệu đồng mỗi cây, thậm chí nửa tỷ đồng/cây. Song họ không bán. Bởi với người nơi đây, giá trị của những gốc trầm không chỉ nằm ở lõi trầm ẩn bên trong, mà còn là nguồn gen quý, là giống tốt để nhân rộng giữ cho nghề truyền thống.
“Giữ cây cũng là giữ nghề, giữ sinh kế cho con cháu sau này. Hạt từ những gốc cổ thụ này sẽ được nhân giống để mở rộng diện tích trồng. Nếu ai cũng bán đi, sau này sẽ không còn nguồn giống tốt để lưu giữ”, ông Nguyễn Văn Thành (xã Phúc Trạch) chia sẻ.
“Vàng xanh” giữa miền sơn cước
Nghề trầm ở Phúc Trạch có từ hàng chục năm trước. Ban đầu, người dân chủ yếu khai thác và bán gỗ cây dó bầu thô cho thương lái. Giá trị mang lại không cao, phụ thuộc nhiều vào thị trường. Có thời điểm, cả làng loay hoay với bài toán sinh kế khi đất đai khô cằn, sản xuất nông nghiệp bấp bênh.
Rồi từ những thân dó bầu âm thầm lớn lên qua năm tháng, một hướng đi khác dần hình thành. Thay vì chỉ bán gỗ thô, người dân bắt đầu học cách chế tác, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn như: trầm nụ, trầm miếng, hương trầm sạch, tinh dầu trầm, trầm cảnh, đồ thủ công mỹ nghệ, trang sức…
Trong giới làm trầm ở Phúc Trạch, người dân vẫn nhắc đến cụ Đinh Công Ánh (SN 1928) như “ông tổ” của làng nghề trầm hương. Cụ là một trong những người đầu tiên đưa nghề đục, đẽo trầm về phát triển tại quê nhà, đặt nền móng cho sinh kế hôm nay.
Dù đã ngoài 90 tuổi, cụ Ánh vẫn còn minh mẫn, đôi mắt sáng và giọng nói sang sảng. Thi thoảng nhớ nghề, cụ lại mang bộ đồ nghề cũ ra gọt, xỉa từng thớ gỗ trầm như một thói quen khó bỏ. Với cụ, đó không chỉ là nghề mưu sinh, mà còn là một phần ký ức đời người. Cụ Ánh kể, trước đây dó bầu ở vùng này mọc nhiều, người dân chủ yếu trồng để lấy bóng mát hoặc làm gỗ. Thương lái miền Nam tìm về mua cây thô khá nhiều, nhưng khi ấy hầu như chưa ai trong vùng biết cách chế tác hay tìm lõi trầm.
“Sau khi được một người thợ ở Huế chỉ dẫn, tôi bắt đầu vào rừng tìm trầm, học từng công đoạn từ cắt, xoi, tỉa để lấy được lõi trầm bên trong. Làm riết rồi quen tay, rồi truyền lại cho bà con”, cụ Ánh nhớ lại.
Từ những nhát đục đầu tiên ấy, nghề trầm dần bén rễ ở Phúc Trạch. Thế hệ trẻ hôm nay tiếp nối, học hỏi nhanh hơn, làm nghề bài bản hơn. Còn với cụ Ánh, điều quý giá nhất không phải là những khối trầm đã bán đi, mà là nghề đã được giữ lại.
Theo ông Hoàng Quốc Nhã, Bí thư Đảng ủy xã Phúc Trạch, hiện người dân địa phương đang sở hữu khoảng 200 cây dó trầm cổ thụ quý hiếm, tuổi đời từ 50 đến 90 năm. Trong số đó có khoảng 15-20 cây từ 70-90 năm tuổi, sinh trưởng tốt, cành lá sum suê. Các cây chủ yếu được trồng trong vườn nhà, trang trại gia đình, cao bình quân từ 15 đến hơn 20 mét. Không chỉ mang giá trị sinh thái, những thân cây ấy còn được ví như “vàng xanh” của làng.
Nhiều cây được giữ lại để lấy hạt làm giống, bởi giống từ những cây “trầm chúa” thường khỏe, thích nghi tốt và có khả năng tạo trầm cao hơn. Một gốc trầm cổ thụ có thể được định giá từ 300–500 triệu đồng, tùy tuổi đời và chất lượng lõi trầm. Cùng với việc gìn giữ cây cổ thụ, xã Phúc Trạch đang từng bước mở rộng không gian phát triển cho làng nghề.