Google News

Vụ 'phù phép' dữ liệu quan trắc môi trường: Phải truy đến cùng đường đi của lợi ích

TPO - Từ vụ làm sai lệch dữ liệu quan trắc môi trường tại hàng loạt doanh nghiệp, trong đó có nhiều nhà máy nhiệt điện lớn, một thực tế đáng lo ngại đang lộ diện: Hệ thống giám sát không thiếu công nghệ, nhưng lại tồn tại lỗ hổng cơ chế.

"Gian lận rẻ hơn tuân thủ"

Vụ án 168 trạm quan trắc môi trường bị can thiệp dữ liệu đang gây xôn xao dư luận, phơi bày những con số vốn được coi là “tai mắt” của cơ quan quản lý lại có thể bị chỉnh sửa ngay tại nguồn.

Trong danh sách các cơ sở bị xác định có liên quan xuất hiện những nhà máy nhiệt điện quy mô lớn như Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh, Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng và Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2. Đây là những nguồn phát điện quan trọng của hệ thống phía Bắc.

Điều đáng nói, trước khi bị "gọi tên" trong vụ án, các nhà máy này từng được giới thiệu là áp dụng công nghệ hiện đại, với hệ thống xử lý khí thải đồng bộ và quan trắc tự động truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý. Những chỉ số phát thải “đạt chuẩn” từng được coi là bằng chứng cho một mô hình nhiệt điện có thể kiểm soát được môi trường.

GS. Hoàng Xuân Cơ - nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quan trắc và mô hình hóa môi trường, Đại học Khoa học tự nhiên - cho rằng, cần nhìn thẳng vào “đường đi của lách luật”, tức là phải làm rõ vì sao hành vi này tồn tại.

Theo ông Cơ, hệ thống quan trắc tự động về nguyên tắc được thiết kế chặt chẽ, đo liên tục và truyền dữ liệu trực tiếp nên rất khó bị thao túng nếu vận hành đúng. Nhưng thực tế vẫn bị can thiệp, bởi tồn tại một yếu tố mang tính quyết định là chi phí. Xử lý khí thải đạt chuẩn trong nhiệt điện than đòi hỏi chi phí lớn, từ vận hành hệ thống lọc bụi, khử lưu huỳnh đến kiểm soát NOx.

“Nếu cắt giảm các công đoạn này, doanh nghiệp có thể tiết kiệm đáng kể chi phí. Khi đó, việc làm đẹp số liệu trở thành cách để hợp thức hóa phần chi phí bị cắt giảm. Nói cách khác, gian lận không phải vì thiếu công nghệ, mà vì gian lận rẻ hơn tuân thủ”, GS Hoàng Xuân Cơ cho hay.

economic-dynamism-in-quang-ninh-province-2.jpg
Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh từng được giới thiệu là vận hành với hệ thống xử lý khí thải đồng bộ.

Mâu thuẫn này càng trở nên rõ nét trong lĩnh vực nhiệt điện. Đây là nguồn điện nền, phải vận hành liên tục để đảm bảo cung ứng cho nền kinh tế, đặc biệt trong các giai đoạn cao điểm. Tuy nhiên, đây cũng là nhóm phát thải lớn nhất trong hệ thống năng lượng.

Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có hơn 30 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành, với tổng công suất chiếm khoảng 30-32% công suất lắp đặt và đóng góp tới gần một nửa sản lượng điện toàn hệ thống, có thời điểm vượt 50% sản lượng huy động. Trong bối cảnh đó, áp lực duy trì vận hành có thể trở thành yếu tố thúc đẩy hành vi đối phó nếu cơ chế giám sát không đủ chặt.

Truy đến cùng “đường đi của lợi ích"

TS. Hoàng Dương Tùng - Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam - cảnh nếu không có cơ chế kiểm chứng độc lập, dữ liệu quan trắc có thể bị can thiệp ngay từ đầu nguồn mà cơ quan quản lý rất khó phát hiện. Thực tế vụ án cho thấy, việc can thiệp không chỉ dừng ở thao tác kỹ thuật mà còn có sự phối hợp giữa doanh nghiệp và đơn vị cung cấp thiết bị, thậm chí liên quan đến cả một số cán bộ quản lý.

Hệ quả của việc “bẻ cong” dữ liệu không chỉ là ô nhiễm bị che giấu. Khi dữ liệu đầu vào không chính xác, toàn bộ hệ thống quản lý môi trường bị đặt trên nền tảng sai lệch. Cơ quan quản lý có thể đưa ra quyết định không phù hợp, trong khi doanh nghiệp tuân thủ nghiêm túc lại chịu bất lợi trong cạnh tranh.

Nguy cơ lớn hơn là niềm tin vào dữ liệu môi trường bị suy giảm, yếu tố cốt lõi cho các cơ chế như tiêu chuẩn phát thải hay thị trường carbon trong tương lai.

Theo ông Tùng, điều cần thiết là thiết kế lại hệ thống theo hướng tách bạch quyền kiểm soát dữ liệu, thiết lập cơ chế kiểm chứng độc lập và tăng cường kiểm tra đột xuất với các nguồn phát thải lớn như nhiệt điện. Quan trọng hơn, phải truy đến cùng “đường đi của lợi ích” trong hành vi lách luật, thay vì chỉ xử lý phần ngọn.

Theo lời khai của các bị can trong vụ án được cơ quan điều tra cung cấp, việc “phù phép” số liệu được thực hiện tinh vi ngay trong hệ thống. Các đối tượng đã lợi dụng quyền truy cập phần mềm để can thiệp từ xa, trực tiếp chỉnh sửa các thông số quan trắc trước khi dữ liệu truyền về cơ quan quản lý, biến những chỉ số vượt quy chuẩn thành đạt chuẩn. Trong nhiều trường hợp, họ còn điều chỉnh cấu hình thiết bị hoặc can thiệp vào đường truyền dữ liệu, khiến kết quả cuối cùng không còn là dữ liệu gốc. Thậm chí, có thời điểm các đối tượng tác động trực tiếp vào đầu đo, hệ thống lấy mẫu để làm sai lệch kết quả ngay từ đầu vào.