Những người giữ đất để nông sản Việt vươn xa

Từng có thời, Lương Hòa – Bến Lức ( Long An, nay là Tây Ninh) được nhắc đến như một vùng đất “hết cửa làm ăn”. Người ta đi qua, nhìn rồi đi tiếp. Ít ai dừng lại để nghĩ rằng, mảnh đất ấy rồi sẽ trở thành vùng chanh không hạt lớn nhất Việt Nam, nơi mỗi mùa thu hoạch, những container nối nhau rời bến, mang theo nông sản Việt đi khắp thị trường thế giới.

Khai mở cây trồng trăm tỷ từ vùng đất khó

Trong ký ức của nhiều người dân địa phương, bà Nguyễn Thị Ba là người đầu tiên tin rằng mảnh đất này vẫn có thể nuôi sống con người bằng một loại cây khác.

Niềm tin ấy không đến trong những ngày đủ đầy, mà nảy sinh đúng lúc gia đình bà gần như không còn gì để mất. Năm 2003, dịch cúm gia cầm bùng phát dữ dội như một cơn bão, cuốn theo gần như toàn bộ tài sản, vốn liếng của gia đình bà. Chỉ trong thời gian ngắn, mọi thứ tích cóp nhiều năm gần như mất trắng. Ở tuổi 45, đứng trước khoản nợ hàng trăm triệu đồng, bà Ba từng nghĩ đến chuyện bán đất trả nợ rồi bỏ xứ mà đi.

Chính lúc ấy, trong một chuyến thăm người bạn ở Tân Uyên (Bình Dương, nay là TP.HCM) đã mở ra hướng rẽ khác. Thấy vườn chanh không hạt sinh trưởng tốt, bà mang vài trái lên siêu thị ở TP.HCM để dò thị trường. Mức giá cao gấp nhiều lần chanh truyền thống khiến bà không khỏi giật mình, tự hỏi: Vì sao mình không thử khởi nghiệp lại, ngay trên chính mảnh đất đã gắn bó cả đời?

Bà Nguyễn Thị Ba, người phát triển chanh không hạt thành công tại vùng đất Bến Lức. Ảnh Đức Hạnh.

Quyết định ấy dường như không hề dễ dàng. Bà được giới thiệu 100 gốc chanh không hạt nhập từ Mỹ về để thuần giống, nhưng chanh không hạt không phải loại cây dễ tính. Những lứa đầu tiên chết nhanh đến mức bà chưa kịp hiểu nguyên nhân. Cây vừa bén rễ đã vàng lá, rụng đọt rồi khô dần. Trồng lại, rồi lại chết. Tiền giống, tiền cải tạo đất cứ thế đội lên, trong khi xung quanh không thiếu lời khuyên nên dừng lại. “Lúc đó tôi chỉ nghĩ là mình chưa hiểu đất. Mà chưa hiểu thì phải học lại,” bà Ba nhớ lại.

Không học nông nghiệp bài bản, bà Ba lặn lội lên TP.HCM tìm sách về cây có múi, về cải tạo đất. Không có tài liệu riêng cho chanh không hạt, bà đọc sách trồng cam, trồng bưởi rồi tự suy luận. Chưa yên tâm, bà bắt xe xuống Cần Thơ, mang theo vài cây chanh để hỏi các giảng viên nông nghiệp vì sao cây sống rồi chết. Câu trả lời đến rất giản dị: liếp thấp, rễ bị ngập, cây không chịu nổi.

Như gỡ được nút thắt trong lòng, bà về nhà và quyết định làm lại từ đầu. Liếp được đắp cao hơn, mương đào sâu hơn, toàn bộ quy trình trồng được thay đổi. Cách làm khi ấy bị xem là “lạ đời”, nhưng chính nó giúp bộ rễ thoát nước, cây chanh đứng vững.

Nhưng trồng được đã khó, bán được còn khó hơn. Thời điểm đó, chanh không hạt Việt Nam gần như vô danh trên thị trường, các siêu thị chủ yếu nhập từ nước ngoài. Bà và cậu con trai mang chanh ra chợ bán từng ký, cho người mua ăn thử. Có ngày bán được vài ký, có ngày mang về gần hết.

Bà Nguyễn Thị Ba giới thiệu về hành trình tiên phong trồng cây chanh không hạt tại Bến Lức.

Khi gõ cửa hệ thống phân phối hiện đại, bà nhiều lần bị từ chối vì họ lo ngại rủi ro về nguồn cung, chất lượng khi làm ăn với nông dân. Không bỏ cuộc, bà đề nghị ký gửi trong ba tháng, cam kết giao đủ, đúng chuẩn; nếu không làm được, bà chấp nhận không lấy tiền.

Ba tháng ấy là quãng thời gian căng thẳng nhất. Bà ưu tiên nguồn hàng tốt nhất cho đối tác, giữ trọn cam kết dù thị trường bên ngoài biến động. Nhờ sự kiên trì, bà đã được hệ thống siêu thị từ Coopmart, Big C, Metro…chấp nhận phân phối chanh không hạt với sản lượng tăng dần từ vài trăm ký mỗi ngày lên cả tấn. Từ cánh cửa thị trường hiện đại ấy, chanh không hạt chính thức có chỗ đứng.

Từ một hộ nông dân từng đứng bên bờ phá sản, đến nay gia đình bà Ba sở hữu khoảng 30ha chanh không hạt, thu bình quân khoảng 300 triệu đồng/ha mỗi năm. Bà còn xây dựng Nông trại Hải Âu, thương hiệu Vica Lime, liên kết vùng nguyên liệu hàng trăm hecta, đưa chanh không hạt vươn ra nhiều thị trường quốc tế. Không chỉ gia đình bà, mà cả vùng Lương Hòa bắt đầu đổi thay khi người dân đều học theo cách làm.

Khi đã đi trọn qua hành trình tìm cây hợp đất của mình, bà Ba mới dần hiểu vì sao trái chanh không hạt lại được thị trường chấp nhận và trả giá cao đến vậy. Không chỉ vì trái đều, vỏ mỏng, lượng nước ổn định, vị chua thanh, ít đắng, phù hợp cả ăn tươi lẫn chế biến sâu, mà quan trọng hơn, nó đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe về an toàn, tính đồng đều và khả năng truy xuất, những yếu tố ngày càng quyết định số phận nông sản trên thị trường hiện đại.

Chanh không hạt luôn được bán với giá cao tạo công ăn, việc làm cho hàng nghìn hộ dân

Nghĩ cho cùng, chanh không hạt không phải là không có “hạt”, nó mang trong mình những “hạt” khác, hạt của giá trị gia tăng, của kỷ luật sản xuất, của tiêu chuẩn và sự khác biệt. Những “hạt ngọc” ấy không nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng lại quyết định trái chanh có thể đi xa đến đâu, được trả giá ra sao, và mở ra một cách nghĩ mới về con đường đi của nông sản Việt.

“Ngày đầu tôi mang chanh ra chợ bán, bà con trong vùng nói chắc chỉ đem ra sông Vàm Cỏ Đông. Giờ nhìn lại, tôi thấy trong tay mình có khối tài sản hàng trăm tỷ đồng mà vẫn không tin đó là sự thật,” bà Ba bộc bạch.

Khi trái chanh không hạt bước ra chuỗi giá trị toàn cầu

Nếu bà Ba là người giữ cho cây chanh không hạt bám rễ và đứng vững trên mảnh đất từng bị xem là khó canh tác, thì ở cách đó không xa, ông Nguyễn Văn Hiển, Chủ tịch HĐQT Công ty Chanh Việt (Chavi), lại là người kiên trì mở những cánh cửa khó hơn để trái chanh ấy đi xa hơn, bước ra khỏi vai trò nông sản thô.

Con đường đến với nông nghiệp của ông Hiển cũng không bắt đầu từ ruộng vườn. Trước đó, ông từng làm việc trong lĩnh vực xây dựng của Nhà nước, quen với bản vẽ, công trình và những con số kỹ thuật. Nhưng trong những chuyến công tác và tiếp xúc quốc tế, một câu hỏi cứ lặp đi lặp lại trong ông: Vì sao nông sản Việt Nam nhiều nhưng giá trị thấp; vì sao ta trồng giỏi mà khi ra thị trường lại luôn ở thế yếu?

Chính những trăn trở ấy khiến ông không chọn con đường dễ. Ông rẽ sang hướng khó hơn: đầu tư vào chế biến, vào giá trị sau thu hoạch, một hành trình vừa tốn kém, vừa mù mờ, không có sẵn lối đi.

Ông Nguyễn Văn Hiển, Chủ tịch HĐQT Công ty Chanh Việt.

Những ngày đầu, trước mắt ông và các cộng sự ở Bến Lức chỉ là cỏ dại, tràm, kênh rạch, thiếu điện, thiếu nước, thiếu hạ tầng. Muốn trồng được cây, họ buộc phải bắt đầu từ con số 0. Có những khu đất phải để trống nhiều năm chỉ để “rửa đất”, trước khi có thể gieo trồng. “Dù có định hướng, nhưng chúng tôi vẫn chưa biết sẽ làm ra sản phẩm gì, bán cho ai, mua máy móc ở đâu,” ông Hiển nhớ lại.

Thế rồi, ông Hiển cùng các cộng sự đi khắp nơi, từ Nhật Bản đến Trung Quốc, tìm mua những dây chuyền phù hợp, đạt chuẩn quốc tế, rồi tự mày mò nghiên cứu, thử nghiệm từng bước để xây dựng nhà máy chế biến tại Bến Lức. Có những máy móc mua về rồi phải bỏ. Có những sản phẩm làm ra nhưng thị trường chưa chấp nhận. Hơn mười năm đầu là quãng thời gian của thử sai, thua lỗ và trả giá. Nhưng cũng chính giai đoạn ấy, ông dần hiểu sâu hơn về công nghệ, về nguyên liệu và về thị trường.

Từ những thử nghiệm bền bỉ đó, các sản phẩm chế biến từ chanh không hạt lần lượt hình thành: nước cốt chanh, bột chanh, bột nước cốt chanh, trà chanh, sốt chanh, chanh sấy, vỏ chanh sấy, tinh dầu chanh… Những thứ từng bị xem là “phụ phẩm” nay trở thành sản phẩm hoàn chỉnh, có tiêu chuẩn, có thị trường. Trái chanh không còn chỉ được bán theo cân, mà được chia nhỏ thành nhiều giá trị khác nhau.

Ông Nguyễn Văn Hiển giới thiệu những sản phẩm chế biến về chanh không hạt.

Các sản phẩm từ chanh do Chanh Việt sản xuất dần “đi từ nông trại đến bàn ăn” của người tiêu dùng trong nước và quốc tế. Từ những container nhỏ đầu tiên xuất sang Nhật Bản, đến việc được chấp nhận tại nhiều thị trường khó tính như Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, Hà Lan, Mỹ, Na Uy…, trái chanh không hạt Việt Nam từng bước tìm được chỗ đứng bằng chất lượng và giá trị chế biến.

Giờ đây trên chính vùng đất năm xưa, ông Hiển còn xây dựng khu vườn mang tên Chavi Garden, một khu vườn sinh thái quy tụ nhiều giống chanh đặc sắc từ Mỹ, Úc, Đài Loan (Trung Quốc), nơi không chỉ trồng cây mà còn là không gian để thử nghiệm, để các nhà khoa học trao đổi, để người làm nông nghiệp nhìn thấy con đường khác của nông sản sau thu hoạch.

Có lúc, đứng giữa khu vườn chanh, ông tự nhủ: làm nông nghiệp rốt cuộc cũng giống như nuôi một ý niệm bền bỉ. Từ người trồng đến người chế biến, ai cũng đều phải học cách kiên nhẫn. Không thể nóng vội, không thể làm qua loa, càng không thể dừng lại ở suy nghĩ “được đến đâu hay đến đó”. Mỗi lần đau đáu nghĩ thêm một nấc giá trị cho sản phẩm cũng là một lần nông sản Việt tự nâng mình lên, âm thầm nhưng chắc chắn, như mùa trái chín chỉ đến sau cả một năm trời giữ đất.