Hai dãy núi, hai sa mạc, hai vùng biển: Địa lý là vũ khí lớn nhất của Iran

Khi nguy cơ Mỹ mở cuộc tấn công trên bộ tại Iran ngày càng rõ rệt, trang tin Anh Middle East Eye ngày 6/4 xem xét các kịch bản có thể xảy ra và cách địa hình nước này có thể khiến lực lượng tấn công phải trả giá đắt.

Khi tiến về vùng Vịnh trên các máy bay vận tải, hàng trăm binh sĩ Mỹ có thể liếc nhìn xuống địa hình bên dưới qua cửa sổ. Một vùng biển ngoằn ngoèo với nhiều đảo; một bờ biển dài hàng trăm kilomet với những vách đá sắc nhọn; và các dãy núi sừng sững áp đảo bất kỳ kẻ xâm nhập nào.

Với địa hình như vậy, không có gì ngạc nhiên khi các chuyên gia quân sự và chính trị cho rằng, một chiến dịch trên bộ sẽ khiến Mỹ phải trả giá rất đắt.

Iran là một quốc gia rộng lớn. Nước này có hai dãy núi dài, Biển Caspi ở phía Bắc, và Biển Oman cùng vùng Vịnh ở phía Nam.

Các chuyên gia cảnh báo rằng, một khi chiến tranh trên bộ bắt đầu, hướng đi và thời gian kéo dài của nó rất khó dự đoán.

“Nếu nhìn vào lịch sử các cuộc tấn công quân sự kiểu này, bạn sẽ thấy rằng một khi tấn công trên bộ bắt đầu, chúng rất khó kiểm soát”, ông Arman Mahmoudian, nghiên cứu viên tại Viện An ninh Toàn cầu và Quốc gia thuộc Đại học Nam Florida (Mỹ), nói với Middle East Eye.

Các chuyên gia Iran chỉ ra ba kịch bản chính nếu chiến tranh trên bộ nổ ra: chiếm các đảo của Iran ở vùng Vịnh và eo biển Hormuz, tấn công bờ biển phía Nam của Iran, hoặc xâm nhập qua các khu vực người Kurd ở phía Tây nước này. Mỗi kịch bản đều tiềm ẩn những nguy cơ và khó khăn nghiêm trọng.

Chiếm đảo Kharg và kiểm soát eo biển Hormuz

Không chỉ các cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái (UAV) của Iran, điều thực sự gây áp lực lên Tổng thống Mỹ Donald Trump và Bộ Chiến tranh Mỹ là việc đóng cửa eo biển Hormuz.

Trước chiến tranh, khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 1/5 tiêu thụ toàn cầu, đi qua eo biển Hormuz mỗi ngày. Nhưng từ khi xung đột bắt đầu ngày 28/2, Iran đã nhắm mục tiêu vào các tàu di chuyển qua tuyến đường thủy này và về cơ bản đóng cửa tuyến đường, gần đây chỉ cho phép một số ít tàu chở dầu từ các quốc gia “thân thiện” đi qua.

Một số báo đưa tin, Iran đã thu tới 2 triệu USD từ một số tàu để đảm bảo an toàn khi đi qua eo biển Hormuz.

Vị trí và quyền kiểm soát của Iran đối với eo biển đã đẩy giá dầu và khí đốt toàn cầu tăng cao, tạo thêm áp lực buộc Mỹ phải mở lại tuyến đường.

Đáp lại, Mỹ đã tấn công các mục tiêu quân sự trên đảo Kharg - trung tâm xuất khẩu dầu của Iran, cách bờ biển khoảng 32 km.

Cuộc tấn công làm dấy lên suy đoán rằng Washington có thể tìm cách chiếm hòn đảo này - ý tưởng mà Tổng thống Trump từng nhắc tới trong một cuộc phỏng vấn năm 1988 với báo Anh The Guardian từ rất lâu trước khi ông bước vào chính trường.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng, động thái như vậy mang lại ít lợi ích và thậm chí có thể phản tác dụng.

Ông Mahmoudian cho rằng, nếu Mỹ cố chiếm Kharg, nơi xử lý khoảng 90% xuất khẩu dầu của Iran, thì Iran thậm chí có thể không chiến đấu tại đó.

“Iran không có lý do gì để chiến đấu với Mỹ trên hòn đảo đó vì họ không có cơ hội chiến thắng. Thay vào đó, họ có thể để Mỹ chiếm đảo rồi tấn công họ tại đó”, ông nói. “Vấn đề tương tự cũng tồn tại với các đảo ở eo biển Hormuz như Qeshm, Hormuz và Larak. Bất kỳ chiến dịch nào của Mỹ ở đó cũng sẽ gặp vấn đề tương tự”.

Điều này cũng được ông Farzin Nadimi, một nhà phân tích tại Viện Washington (Mỹ), một tổ chức có lập trường chống Iran và ủng hộ Israel, thừa nhận.

Trong cuộc phỏng vấn với podcaster Iran Bozorgmehr Sharafedin, ông Nadimi nói: “Việc chiếm đóng quân sự đảo Kharg là không thực tế và không hợp lý. Ngay cả khi chiếm được các đảo của Iran, việc giữ chúng cũng sẽ rất khó”.

Các chuyên gia cũng cảnh báo rằng việc chiếm Kharg có thể khiến giá dầu tăng cao hơn nữa. “Mỹ có thể chiếm đảo và ngăn dòng chảy dầu từ Iran, nhưng điều đó sẽ gây tổn hại thị trường năng lượng toàn cầu. Việc loại bỏ khoảng 1,5 triệu thùng dầu/ngày của Iran sẽ lại đẩy giá lên”, ông Alex Vatanka, chuyên gia cao cấp tại Viện Trung Đông ở Washington, nói.

Ngoài Kharg, Iran có 42 hòn đảo ở vùng biển phía Nam, trong đó 18 đảo có người ở và 24 đảo không có người.

Đảo lớn nhất là Qeshm, trải dài dọc eo biển Hormuz, rộng khoảng 1.500 km², lớn hơn cả Bahrain và Singapore, và chỉ cách đất liền Iran 2 km.

Ba đảo khác, Tunb Lớn, Tunb Nhỏ và Abu Musa, đặc biệt nhạy cảm. Thường được gọi là “ba đảo”, chúng cũng bị Các Tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất (UAE) tuyên bố chủ quyền. Điều này làm dấy lên khả năng Mỹ có thể chiếm chúng và bàn giao cho UAE.

Tuy nhiên, chuyên gia Vatanka cảnh báo điều này có thể tạo ra vấn đề lâu dài cho quốc gia vùng Vịnh này. “Có thể Mỹ muốn làm điều gì đó có lợi cho UAE, nhưng UAE phải cân nhắc kỹ liệu họ có muốn các hòn đảo đó trong hoàn cảnh như vậy hay không”, ông nói.

Ông Vatanka cho rằng, về lâu dài, “điều đó sẽ trở thành điểm căng thẳng và xung đột với phần còn lại của Iran trong nhiều thập kỷ”.

Cả hai chuyên gia Vatanka và Mahmoudian đều cho rằng, nếu Mỹ chiếm đảo, mục tiêu có thể là chính trị, cụ thể là tạo đòn bẩy đàm phán và buộc Iran nhượng bộ để đổi lại việc trả lại lãnh thổ.

Các nguồn tin cấp cao Iran trước đây nói với Middle East Eye rằng, Tehran sẽ đáp trả bất kỳ cuộc xâm lược trên bộ nào bằng cách tấn công mạnh vào UAE, quốc gia mà họ coi là đồng lõa với Mỹ và Israel.

Vị trí đảo Kharg, eo biển Hormuz ở vùng Vịnh. Bản đồ: MEE.

Đánh chiếm bờ biển phía Nam

Bờ biển phía Nam của Iran kéo dài hơn 1.800 km từ gần Abadan (giáp Iraq) tới Vịnh Gavater gần biên giới Pakistan. Nó chạy qua các tỉnh Khuzestan, Bushehr, Hormozgan và Sistan-Baluchestan, bao phủ bờ phía bắc vùng Vịnh, eo biển Hormuz và Biển Oman.

Chiều dài lớn của bờ biển có thể khiến Iran khó phòng thủ mọi điểm, nhưng đồng thời cũng tạo thách thức tương tự cho lực lượng xâm lược.

Ông Mahmoudian cho rằng, nếu Mỹ mở chiến dịch trên bộ vượt ra ngoài các đảo, bờ biển có thể là mục tiêu then chốt để siết kiểm soát eo biển Hormuz, đặc biệt vì khu vực này gần các căn cứ Mỹ trong vùng Vịnh.

“Đối với tấn công trên bộ, quân đội cần gần căn cứ để đảm bảo hậu cần, đưa quân mới vào và chuyển thương binh ra khỏi tiền tuyến”, ông Mahmoudian nói.

Ông cũng lưu ý ưu thế hải quân của Mỹ trong khu vực. “Hải quân Mỹ hiện chiếm ưu thế ở Vịnh Ba Tư, và lực lượng triển khai là lính thủy đánh bộ được huấn luyện cho tác chiến đổ bộ”, ông nói.

Tuy nhiên, chuyên gia Mahmoudian cảnh báo rằng, ngay cả chiến dịch hạn chế cũng có thể nhanh chóng leo thang. “Giả sử mục tiêu là kiểm soát một phần bờ biển gần eo biển Hormuz. Bạn có thể chiếm được bờ biển, nhưng lực lượng sẽ liên tục bị tấn công”, ông nói. “Để bảo vệ họ và thiết lập phòng tuyến, bạn sẽ phải tiến sâu vào nội địa. Khi đó, việc kiểm soát leo thang trở nên rất khó”.

Quy mô rộng lớn của Iran một lần nữa trở thành yếu tố then chốt.

Ông Nadimi cho biết Iran vẫn duy trì các cuộc tấn công bất chấp nhiều tuần bị Mỹ và Israel không kích. Các bệ phóng tên lửa phân tán khắp đất nước, còn UAV và vũ khí khác được cất giữ trong các cơ sở ngầm.

“Iran vẫn đang phóng tên lửa dùng nhiên liệu lỏng”, ông nói. “Những loại này cần bệ phóng lớn phải chuẩn bị ngoài trời, và Iran làm được điều đó nhờ lãnh thổ rộng lớn”.

Iran có diện tích hơn 1,4 triệu km², là quốc gia lớn thứ 17 thế giới. Nước này cũng có hai sa mạc lớn: Dasht-e Kavir và Lut.

Iran có hơn 390 ngọn núi cao trên 2.000 m, trong đó 92 ngọn cao trên 4.000 m. Đỉnh cao nhất Trung Đông, núi Damavand cao khoảng 5.700 m, cũng nằm tại đây.

Ông Vatanka cho rằng, những đặc điểm địa lý này có lợi cho Iran trong chiến tranh trên bộ, so sánh với cuộc xâm lược Iraq năm 2003 của Mỹ. “Iran lớn gấp khoảng bốn lần Iraq, nghĩa là mục tiêu phân tán trên diện tích rộng hơn nhiều”, ông nói.

“Địa hình đồi núi, và chúng ta biết Iran đã dành nhiều năm đặt khí tài quân sự trong lòng đất. Ngoài ra, Iran đã chuẩn bị lâu dài cho kịch bản này và có khả năng đối phó tốt hơn nhiều so với Tổng thống Iraq Saddam Hussein năm 2003”, chuyên gia Vatanka nhận định.

Các cơ sở hạt nhân của Iran, mục tiêu chính của Israel và Mỹ, cũng nằm sâu trong núi, khó tiếp cận và dễ phòng thủ.

Vị trí các đảo quan trọng của Iran. Bản đồ: MEE.

Tấn công từ khu vực người Kurd

Một kịch bản khác là tấn công từ phía Tây, qua dãy núi Zagros và các khu vực người Kurd gần biên giới Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ.

Ngay từ đầu cuộc chiến Mỹ-Israel nhằm vào Iran, một số ý kiến cho rằng các nhóm vũ trang người Kurd Iran tại Iraq có thể được sử dụng làm lực lượng trên bộ.

Đến nay, các nhóm này vẫn tránh tham chiến trực tiếp. Tuy nhiên, tại một hội nghị trực tuyến ở Đại học Tel Aviv ngày 19/3, chỉ huy của PJAK và PAK đã bày tỏ quan tâm hợp tác với Israel.

Dù vậy, các chuyên gia cho rằng kịch bản này khó mang lại kết quả như Washington mong muốn.

Theo ông Mahmoudian, Mỹ sẽ hỗ trợ trên không trong khi lực lượng Kurd tác chiến mặt đất. “Mỹ nhiều khả năng sẽ đưa lực lượng Kurd tiến lên trước vì họ quen địa hình”, ông nói. “Họ sẽ đảm nhận phần khó nhất, chiến đấu ở địa hình hiểm trở và vượt dãy Zagros, trong khi quân Mỹ theo sau”.

Ông cảnh báo chiến lược này sẽ khiến lực lượng Kurd chịu tổn thất nặng nề do sự hiện diện quân sự mạnh của Iran trong khu vực.

Tháng trước, Middle East Eye đưa tin, Iran đã điều nhiều quân tới khu vực dưới vỏ bọc tập trận, chuẩn bị cho chính kịch bản này.

Ông Vatanka cũng nghi ngờ khả năng duy trì chiến dịch của các nhóm Kurd, vốn được trang bị không đầy đủ và thiếu lực lượng quy mô lớn.

“Họ có thể dựa vào yểm trợ trên không của Mỹ và Israel, nhưng sẽ phải chấp nhận tổn thất lớn”, ông dự đoán. “Khi tiến sâu vào khu vực đa số người Ba Tư, tình hình sẽ còn khó khăn hơn”.

Ông Vatanka kết luận: “Tôi không thấy lực lượng Kurd Iran từ Iraq có thể tiến vào Iran và tiến tới tận Tehran. Họ đơn giản không có năng lực đó”.

Ảnh vệ tinh cho thấy toàn cảnh khu phức hợp đường hầm trên núi Pickaxe tại Natanz, Iran ngày 7/3/2026. Ảnh: Reuters.

Chiến lược của Mỹ là gì?

Chiến lược và mục tiêu của Mỹ trong cuộc chiến vẫn chưa rõ ràng.

Nếu mục tiêu là thay đổi lãnh đạo Iran, như Mỹ và Israel từng tuyên bố khi bắt đầu chiến tranh ngày 28/2, thì nhiều tuần không kích và ám sát các nhân vật quân sự, chính trị vẫn chưa làm lung lay cấu trúc quyền lực của nước này.

Nếu mục tiêu là gây áp lực buộc Tehran đàm phán, thì cho đến nay chưa có bằng chứng rõ ràng, thậm chí còn khiến lãnh đạo Iran cứng rắn hơn.

Các chuyên gia cũng cảnh báo rằng bất kỳ sự chiếm đóng nào cũng có thể củng cố chủ nghĩa dân tộc Iran.

Trong lịch sử, Cộng hòa Hồi giáo Iran cho thấy họ không đàm phán khi lãnh thổ bị chiếm đóng.

Ông Mahmoudian dẫn chứng chiến tranh Iran-Iraq giai đoạn 1980-1988, khi Iraq chiếm một số thành phố nhỏ, cảng Khorramshahr và bao vây Abadan. “Trong chiến tranh Iran-Iraq, chúng ta thấy Iran không đàm phán khi lãnh thổ bị chiếm”, ông nói. “Trong năm đầu, khi Iraq chiếm Khorramshahr và bao vây Abadan, Iraq đề nghị đàm phán. Iran từ chối chừng nào lãnh thổ còn bị kiểm soát”.

Ông Vatanka đồng tình, cho rằng cách tiếp cận của Mỹ thiếu một chiến lược nhất quán. Ông lưu ý rằng ý tưởng “thay đổi chế độ”, được Tổng thống Trump và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu nhắc tới lúc đầu, đã nhanh chóng bị lãng quên.

“Không có đại chiến lược cho thay đổi chế độ. Chiến lược đó chỉ là hy vọng người dân Iran nổi dậy và lật đổ chính quyền”, ông Vatanka nói. “Đó không phải là chiến lược, mà là hy vọng”.

Địa hình hiểm trở và kho vũ khí dồi dào của Iran có thể là tử địa cho lực lượng bộ binh nước ngoài xâm nhập. Minh họa: Thái An.