Bom tấn chưa từng có của Nhật Bản

Sau màn ra mắt hoành tráng tại Directors' Fortnight ở Cannes, phim ''Kokuho'' (Quốc Bảo) đã vươn thành một bom tấn thương mại chưa từng có tại Nhật Bản, xô đổ các kỷ lục phòng vé nội địa với doanh thu gần một trăm triệu USD và giành vị trí danh giá trong danh sách rút gọn Phim quốc tế xuất sắc nhất tại Oscar 2026.

Tuy nhiên, ẩn dưới những bộ trang phục lộng lẫy, thiết kế bối cảnh ấn tượng, và phần hình ảnh đẹp ngoạn mục, lại là tác phẩm điện ảnh đang phải vật lộn sâu sắc với chính cấu trúc kể chuyện của nó. Kokuho cho thấy những khiếm khuyết trong việc cố gắng lột tả trọn vẹn những chiều sâu cảm xúc và sự phức tạp trong chủ đề mà nó đã mạnh dạn hướng tới.

‘Lưỡng nhân’ Onnagata

Kokuho của đạo diễn Sang-il Lee là tác phẩm điện ảnh sử thi khám phá thế giới phức tạp của môn nghệ thuật sân khấu truyền thống nổi tiếng xuất hiện từ thời Edo của Nhật Bản là Kabuki (Ca Vũ Kỹ).

Được chuyển thể từ tác phẩm văn học nổi tiếng của Shuichi Yoshida, bộ phim ghi lại cuộc hành trình dài 50 năm xuyên qua thế giới sân khấu Nhật Bản vô cùng khép kín và cạnh tranh khốc liệt của hai nghệ sĩ Kabuki là Kikuo Tachibana và Shunsuke Ogaki. Hiếm có nỗ lực nào lại táo bạo và tham vọng như tác phẩm này trong việc cố gắng thu gọn trọn vẹn bản hùng ca bao trùm nhiều thế hệ của một loại hình nghệ thuật truyền thống.

Các đoàn kịch Kabuki ở thời Edo chỉ gồm nữ giới được gọi là Onna-kabuki. Từ năm 1629, Mạc phủ Tokugawa ra sắc lệnh cấm các nữ nghệ sĩ lên sân khấu, từ đó sinh ra các nam diễn viên hóa thân thành các nhân vật nữ được gọi là Onnagata.

Onnagata yêu cầu người nghệ sĩ phải cống hiến trọn đời và toàn diện để có thể làm chủ những sắc thái tinh tế của chuyển động nữ giới, ngữ điệu giọng nói và cộng hưởng tâm lý, đồng thời duy trì một cơ thể mảnh khảnh và uyển chuyển suốt sự nghiệp.

Bộ phim giới thiệu về quá trình hóa thân tuyệt đối của Kikuo Tachibana, một thiếu niên xuất thân từ một gia đình có cha là trùm yakuza bị băng đảng khác sát hại. Ngay từ phân cảnh mở đầu, lấy bối cảnh Nagasaki giá lạnh vào mùa đông năm 1964, ta được thấy một cậu thiếu niên tỉ mỉ thoa lớp oshiroi - loại phấn nền màu trắng nhằm xóa bỏ lớp da và chi tiết khuôn mặt, như cách để chôn vùi danh tính thật của mình, hóa thân vào sự trống rỗng, nỗi đau đớn và sự ngây ngất đầy chất kịch tính của các thân phận nữ giới trên sân khấu.

Bậc thầy Onnagata Hanjiro Hanai (Ken Watanabe thủ vai, giữa) huấn luyện gắt gao hai Onnagata trong tương lai là Kikuo Tachibana (trái) và Shunsuke Ogaki. Ảnh: Toho.

Nhân vật song hành cùng Kikuo trong hành trình năm mươi năm là người anh em nuôi Shunsuke Ogaki. Khán giả theo dõi sự trưởng thành của hai thiếu niên dưới sự dẫn dắt vô cùng khắc nghiệt của người cha nuôi/người thầy Hanjiro Hanai (Ken Watanabe thủ vai), cũng là huyền thoại Onnagata.

Kikuo và Shunsuke gắn kết với nhau qua cả một tuổi trẻ cùng chung sống, tập luyện khắc nghiệt, và tranh đấu trên sân khấu. Họ thân thiết như anh em ruột thịt, nhưng vẫn không thể xóa nhòa đi sự thật rằng chỉ Shunsuke - người thừa kế hợp pháp của Hanjiro mới mang dòng máu của môn nghệ thuật Kabuki, còn Kikuo, dù có cố gắng tới mấy, thì vẫn luôn là kẻ ngoại tộc.

Nam diễn viên Ryo Yoshizawa đảm nhận vai Kikuo đã mang đến màn trình diễn lạnh lùng và cô độc. Anh khắc họa một Kikuo phảng phất nét u sầu, bản ngã mờ nhạt và mang dáng dấp của kẻ xa lạ, dẫu đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc. Còn Ryusei Yokohama trong vai Shunsuke, người tỏa sáng bằng nguồn năng lượng hướng ngoại đầy thiện cảm của chàng trai trẻ đang chật vật trốn chạy khỏi định mệnh bị áp đặt từ gia đình.

Kikuo ở tuổi trưởng thành, do Ryo Yoshizawa thủ vai. Ảnh: Toho
Ryûsei Yokohama trong vai Shunsuke Ogaki trưởng thành. Ảnh: Toho

Mối quan hệ giữa hai người vượt ra ngoài những lằn ranh phân định anh hùng hay phản diện thông thường. Sự gắn kết của họ đan xen giữa tình bằng hữu, sự ganh đua và cả niềm thấu cảm sâu sắc về tình cảnh bế tắc của đôi bên.

Thông qua mối quan hệ này, bộ phim khai thác những hy sinh đau đớn để đạt đến sự hoàn mỹ trong nghệ thuật Kabuki - quá trình bào mòn con người một cách khắc nghiệt. Sự huy hoàng của buổi biểu diễn Kabuki tỷ lệ thuận với nỗi đau mà người diễn viên phải gánh chịu. Kokuho đưa ra câu hỏi tiền đề hấp dẫn, đó là liệu thành tựu nghệ thuật đỉnh cao có đòi hỏi người nghệ sĩ phải hủy diệt hoàn toàn bản ngã của họ hay không?.

Đạo diễn Sang-il Lee đã kiến tạo nên tác phẩm quy mô với thiết kế sản xuất vô cùng lộng lẫy. Dưới ống kính của nhà quay phim Sofian El Fani, màn ảnh ngập tràn những dải màu và ánh sáng rực rỡ của không gian sân khấu và nhà hát kịch truyền thống của Nhật. Chuyên gia thiết kế sản xuất Yohei Taneda và nhà thiết kế phục trang Kumiko Ogawa đã tái hiện lại những bộ trang phục kimono lấp lánh cùng những bối cảnh lịch sử đầy hoài niệm. Đặc biệt, kỹ thuật trang điểm và làm tóc của chuyên gia trang điểm Naomi Hibino cùng đội ngũ hóa trang bộ phim đã nhận được một đề cử hoàn toàn xứng đáng tại kỳ Oscar lần thứ 98.

Những hụt hẫng

Tuy nhiên, càng đi sâu vào cách thức triển khai mối quan hệ đối đầu cốt lõi của phim, cốt truyện bộc lộ những khiếm khuyết.

Phiên bản trưởng thành của hai nhân vật chính bộc lộ rõ sự thiếu hụt về chiều sâu tâm lý. Cuộc khủng hoảng niềm tin vào bản thân và quyết định bỏ đi biệt xứ của Shunsuke khá khiên cưỡng, bởi kịch bản vốn dĩ khắc họa anh hoàn toàn thờ ơ với di sản gia tộc. Vì vậy, bước ngoặt này có phần giống một thủ pháp kể chuyện rập khuôn hơn là bi kịch đủ mạnh khiến người xem thật sự xót xa.

Hai tạo hình của Kikuo và Shunsuke trong vở Thánh nữ đền thờ - vở kịch Kabuki đã đưa tên tuổi của cả hai bứt phá. Ảnh: Toho.

Về phần Kikuo, dù động lực vươn lên được xây dựng rõ nét hơn, quá trình thể hiện của diễn viên Ryo Yoshizawa lại chưa đủ tinh tế để dẫn dắt tác phẩm có sức nặng như Kokuho. Các lựa chọn biểu cảm của nam diễn viên khá dễ đoán, như với phân đoạn suy sụp trên sân thượng. Thay vì lột tả nội tâm rạn nứt của nghệ sĩ rơi vào đáy sự nghiệp, cảnh quay lại sa đà vào những tiếng gào thét phô trương, hoàn toàn tách rời khỏi sự tuyệt vọng chân thật của con người.

Nhịp độ kể chuyện cũng gây tổn hại đến quá trình phát triển nhân vật. Sau khi thiết lập một cách kỹ lưỡng tình bạn gắn bó thời niên thiếu của đôi nhân vật chính, kịch bản hiếm khi cho phép khán giả chứng kiến sự tiến triển tinh tế trong mối quan hệ khi trưởng thành của họ bên ngoài sân khấu. Sự vội vã này đã cản trở việc phát triển mối quan hệ phức tạp, thứ vốn dĩ làm nâng tầm những câu chuyện xoay quanh sự ganh đua nghệ thuật kéo dài cả đời người. Sự căng thẳng sâu sắc trong mối quan hệ đan xen tinh tế với lòng ghen tỵ, sự ngưỡng mộ và cống hiến thầm lặng mà khán giả luôn khao khát trong những bộ phim sử thi như vậy lại gần như vắng bóng.

Một khuyết điểm đáng lưu tâm nhất của Kokuho nằm ở cách bộ phim tiếp cận truyền thống Onnagata chỉ mới ở trên bề mặt chứ chưa thật sự đào sâu vào loại hình diễn xuất phức tạp này. Trong những tác phẩm cùng thể loại như Bá Vương Biệt Cơ của đạo diễn Trần Khải Ca, việc khám phá hình ảnh nam giới hóa thân thành nữ giới đóng vai trò như một phương tiện để lên án những định kiến giới tính và các hệ thống gia trưởng mang tính áp bức.

Ngược lại, Kokuho tập trung gần như hoàn toàn vào nỗi đau và nỗ lực của phái mạnh để đạt được khả năng hóa thân thành nhân vật nữ trên sân khấu. Nữ tính bị thu hẹp thành một món đồ trang sức lộng lẫy, một chướng ngại vật mang tính thẩm mỹ được thiết kế chỉ để thử thách giới hạn tham vọng của đàn ông. Bộ phim không có bất kỳ nỗ lực nào nhằm mục đích khám phá ý nghĩa của việc nội tâm hóa tinh thần nữ giới, và quá trình chuyển đổi này trong Kokuho chỉ được đơn thuần xem như màn trình diễn tiêu tốn nhiều sức lực và tinh thần của các nhân vật nam.

Thánh nữ đền thờ cũng tác phẩm hàn gắn mối quan hệ của họ sau nhiều năm xa cách. Ảnh: Toho.

Kokuho của Sang-il Lee chắc chắn là bữa tiệc mãn nhãn với thiết kế sản xuất hoàn hảo và nỗ lực ghi lại bề mặt lịch sử của di sản văn hóa quý giá của Nhật. Bộ phim đặt ra những góc nhìn đáng chú ý về điểm giao thoa giữa truyền thống, tài năng bẩm sinh và những hy sinh cá nhân tàn khốc của loại hình nghệ thuật đỉnh cao đòi hỏi.

Tuy nhiên, khi đi vào chi tiết sâu bên trong từng thước phim đẹp đó, tác phẩm dần bộc lộ nhiều khoảng trống lớn. Mối quan hệ đối đầu giữa các nhân vật thiếu chiều sâu cảm xúc, và sự gắn kết chủ đề hời hợt đã làm giảm đi giá trị tổng thể.

Bộ phim tái tạo tỉ mỉ chiếc mặt nạ lộng lẫy của nhà hát Kabuki, song nó lại quên mất việc tìm kiếm một trái tim con người đang đập những nhịp đập phức tạp bên dưới lớp phấn trắng tinh khôi mỹ miều đó.