Bâng khuâng Dục Thúy sơn

Trước nay thiên hạ cứ nhắc cứ nắc nỏm đến địa danh Núi Bài Thơ ở Quảng Ninh, nơi vua Lê Thánh Tông từng đề thơ. Mà rất ít người quên mất cố đô Hoa Lư Ninh Bình có một núi Bài Thơ nữa. Đó là Dục Thúy sơn. Núi Bài Thơ Quảng Ninh chỉ có một bài thơ. Nhưng Dục Thúy sơn có tận những hơn 60 khoảng ma nhai - thơ khắc trên đá, những bia thơ nổi tiếng của các bậc vua chúa, trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa và bao tao nhân mặc khách xuyên suốt 7 thế kỷ Đại Việt!

… Thấy tôi có chút băn khoăn rằng cặp gối mình có leo nổi Dục Thúy sơn không thì anh em cười vui “Bằng cái nhà lầu 4 tầng rưỡi chứ mấy?

Vậy là lần đầu được leo Non Nước - Dục Thúy sơn, ngọn núi thơ núi Tiên. Bên cạnh lại có thêm mấy bạn hiền.

Tác giả bài viết ở Dục Thúy Sơn.

Non Nước có cái tên Dục Thúy Sơn, tác giả là một danh sĩ nhà Trần. Danh tướng Trương Hán Siêu từng gần gụi tả phù hữu bật suốt 4 đời vua Trần vì yêu cảnh đẹp hòn Non Nước đã đổi thành Dục Thúy sơn (Dục Thúy nghĩa là con chim trả tắm mình bên dòng sông nước bạc). Ông cho đề bài thơ Dục Thúy sơn khắc thạch trên đá núi Thúy. Non Nước Ninh Bình cũng là quê Trương Hán Siêu. Về già ông làm nhà ở ngay núi Dục Thúy.

Xin trích ra đây tài liệu của các “quan” văn sở tại.

Hòn Non Nước - Dục Thúy sơn có độ cao hơn 100 mét, nơi cao nhất là mỏm núi Đông Nam. Phía Đông, phía Tây đều dựng đứng và hiểm trở, chỉ có phía Nam là còn có chỗ thoai thoải, người xưa đã tạo bậc lên xuống để trèo lên đỉnh núi mà ngắm cảnh.

Theo dấu chân của tiền nhân, tôi cố ghìm nhịp thở để nghe cho thủng nhời cuả anh cán bộ Sở văn hóa Ninh Bình (khi hạ sơn lại ngồi chép lại cho chắc).

… Đến năm 2008, đã có tổng số gần 60 văn bia được thống kê ở núi Non Nước - Dục Thúy sơn. Có 9 bia thời Trần, 8 bia thời Lê, 39 bia thời Nguyễn, 3 bia chưa xác định được niên đại. Do tác động của thiên nhiên và con người, một số bia đã hư hại, không còn đọc được.

… Trong số 9 văn bia thời Trần hiện còn trên núi, có 1 bia ký sự, 1 bia sắc chỉ vua ban, 1 bia thơ, 6 bia còn lại là bia tiến cúng. Bia ký sự là bia “Dục Thúy sơn Linh Tế tháp ký” do Trương Hán Siêu soạn vào năm Thiệu Phong thứ 3 (1343) thời Trần.

Cả thẩy có 8 văn bia thời Lê. 3 bia ngự đề của các vua Lê Thánh Tông năm Quang Thuận thứ 8 (1467) đề là “Dư bái yết”. Lê Hiến Tông năm Cảnh Thống thứ 4 (1501) đề là “Ngự chế đề Dục Thúy sơn”

Văn bia thời Nguyễn chiếm số lượng lớn nhất trong bộ sưu tập bia ở núi Non Nước, với 39 bia. Văn bia thời Nguyễn ở đây đa phần là bia thơ của vua quan, các bậc tao nhân mặc khách đề tựa mỗi lần về qua Ninh Bình. Ngoài ra có một bia đại tự “Y nhiên thiên cổ” (ngàn năm vẫn thế) khắc năm Duy Tân thứ 2 (1908).

Một bia có tựa đề “Loạn hậu đăng Dục Thúy sơn” khắc năm Tự Đức thứ 27 (1874) nói lên nỗi hoài cảm sau thời loạn lạc (Pháp đánh chiếm tỉnh Ninh Bình năm 1873), cuộc đời đổi thay dâu bể) Trong số 39 bia thời Nguyễn, có 6 bia khắc bằng chữ quốc ngữ, nằm ở góc Đông Nam trên đỉnh núi.

… Người cán bộ Bảo tàng có lưu ý chúng tôi rằng, giới nghiên cứu đã đánh giá, các bản văn khắc hiện còn trên vách đá ở núi Non Nước không chỉ là các tác phẩm văn học có giá trị mà còn là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc công phu, có giá trị thẩm mỹ cao, được phân bố hài hòa trên các vách đá phẳng, dựng đứng, làm tôn thêm vẻ đẹp và kết tinh giá trị văn hóa của thắng cảnh nổi tiếng Dục Thúy Sơn và cố đô Hoa Lư Ninh Bình.

Trong số 8 văn bia thời Lê, chĩnh chiện trên đỉnh Dục Thúy Sơn là bài thơ của nhà vua Lê Hiến Tông “Ngự chế đề Dục Thúy sơn” khắc năm Cảnh Thống thứ 4 (1501). Đó là bức ma nhai như thách đố với thời gian bởi chữ khắc còn rõ nét nhất.

Trong chính sử, Toàn thư (Đại Việt sử ký Toàn thư) còn rành rẽ về Lê Hiến Tông, người con trai cả của Vua Lê Thánh Tông, vị hoàng đế thông minh, nhân từ và ôn hòa. Thường sau khi bãi triều, Hiến Tông ra ngồi nói chuyện với các bá quan và sĩ đại phu, hỏi han về việc hay dở, được mất của chính sự, dùng lời nói dịu dàng, nét mặt tươi vui để dẫn dắt cho họ nói ra. Cho nên vua biết rõ tình người bên dưới, gạt bỏ sự che đậy giấu giếm. Bề tôi có lỗi lầm gì, ông khuyên bảo, quở trách nhẹ nhàng, chứ không gắt mắng hay đánh roi làm nhục bao giờ. Ông luôn biết cách sắp đặt công việc nên nhàn hạ ung dung, chưa bao giờ to tiếng, giận dữ mà thiên hạ đều răm rắp tuân theo.

Lê Hiến Tông, ở ngôi vua ngắn ngủi có 7 năm, thọ chỉ 44 tuổi nhưng đã để lại nhiều tiếng thơm trong sử. Cũng là ông vua có nhiều thơ khắc trên đá ở nhiều danh thắng.

Trở lại bài Ngự chế trên Dục Thúy sơn.

Bia có 2 phần.

Phần tịnh dẫn ( Lời dẫn)

Cảnh Thống tứ niên, thanh xuân chi trọng. Dự bái yết tẩm lăng, lộ kinh Phật sái. Nãi duy chu ngạn thượng tín bộ nham đầu. Tế thắng tằng điên tức không trượng thất. Đăng Thái Sơn nhi tiểu thiên hạ, vọng thượng hải nhi hội triều đông. Giai hứng hốt sinh, vĩnh lưu vu thạch.

(Lời dẫn. Năm Cảnh Thống thứ 4 (1501), giữa tiết xuân tươi. Ta bái yết tẩm lăng, đường qua chùa phật. Liền buộc thuyền lên bộ, thực đạp sườn non. Từng tầng cảnh thắng lên, ngộ cái như không cảnh vật. Đúng cảm xúc: lên Thái Sơn thấy thiên hạ nhỏ, nhìn biển xanh muôn nhánh về Đông. Thi hứng tràn tuôn, mãi lưu vào đá)

Phần thơ.

Ngẫu thừa cơ hạ trắc toàn ngoan

Ẩn* chiêu đề tử thúy đoan

Tháp hữu dục vương tàng xá lợi

Nhân tòng nhật quán kiến Tràng An

Du du ngao cực thi hoài tráng

Diểu diểu tang điền nhãn giới khoan

Nhân trí khởi du đa thiểu lạc

Cánh thăng tuyệt đỉnh vọng bằng đoàn

Thượng Dương động chủ đề

Trung thần giám chính tự thần Ngô Ninh phụng tả

*(Chữ Ẩn chữa thành Ánh, kỵ húy thời Nguyễn)

Bản dịch

Nhân lúc nhàn rỗi lên đỉnh cheo leo,

Vẻ tía vẻ xanh chen đè ẩn ẩn ước ước.

Có tháp còn tàng lưu Xá lợi thời xưa

Cảm xúc nhìn từ núi này mà thấy cảnh Trường An.

Lồng lộng như trụ chống trời, làm lòng thơ mạnh mẽ,

Mênh mông cảnh ruộng dâu phóng rộng tầm mắt.

Là cảnh của những bậc Nhân- Trí, dấy lên trong ta bao niềm cảm xúc khoan khoái,

Càng muốn lên tuyệt đỉnh ngóng gió lớn liệng theo cánh chim bằng.

Thượng Dương động chủ đề.

Chức Trung thư giám chính tự, thần là Ngô Ninh vâng viết chữ.

Chợt nhớ thêm vị vua này từng có thơ đề ở Động Hồ Công (gần thành Tây Đô) Vĩnh Lộc quê tôi.

Coi lại bài Ngự chế đề Hồ Công động (Thượng Dương động chủ đề - danh xưng cùng bút hiệu của Lê Hiển Tông).

Thong thả buông cương đến động trời/ Vịn mây lên thẳng động tiên chơi/ Gió trăng cổ miếu vui non nước/ Bờ cõi hư không lặng đất trời/ Tùng cúc đã chia nên khác tục/ Văn chương gác lại biết bao lời/ Bầu tiên cảnh lạ cùng tiên khách/ Vận nước hanh thông ức vạn đời.

Thác bản Bia đề thơ Ngự chế của vua Lê Hiển Tông

Tôi chú ý đến dòng lạc khoản:

“Thượng Dương động chủ đề; Cảnh Thống kỷ nguyên chi tứ, Tân Dậu trọng xuân bái yết tẩm lăng, hành hạnh Tây đô lưu đề nhất luật; Trung thư giám chính tự, thần Ngô Ninh phụng tả” (Tháng hai mùa xuân năm Tân Dậu Cảnh Thống thứ 4 (1501) bái yết sơn lăng, trên đường đi lưu đề ở Tây đô một bài; Trung thư giám chính tự).

Chợt bừng lên cảm giác ngạc nhiên, thú vị! Vậy là cùng thời (cùng năm) năm Tân Dậu 1501, vua Lê Hiến Tông sau khi đề thơ ở Động Hồ Công trên đường ra Bắc đã dừng lại ở Dục Thúy sơn đề thơ! Cũng viên quan văn Ngô Ninh phụng mệnh khắc chữ trên đá!

Trước đó nữa, vua Lê Hiến Tông cũng có thơ để ở núi Trợ Chích (núi chiếc đũa) ở Nga Sơn Thanh Hóa.

Cũng cần nói thêm, nếu không có thác bản (bản rập) lưu trữ từ trước ở thư khố Ninh Bình lẫn Quốc gia thì làm sao tôi có được bản Ngự chế đề núi Dục-thúy hầu bạn đọc trên đây!

Bởi núi Non Nước- Dục Thủy Sơn, thời điểm chiến dịch Quang Trung (1951) đã trở thành bãi chiến trường khốc liệt. Đơn vị của bộ đội Giáp Văn Khương đã tiêu diệt được 200 tên giặc chiếm lĩnh 6 đồn bốt trên núi Thúy. Nhưng sáng hôm sau giặc Pháp huy động cả một trung đoàn tấn công chiếm lại đỉnh Dục Thúy. Trước khi tấn công, Pháp đã cho nã hàng trăm quả đại bác lên đỉnh Dục Thúy nơi quân ta chiếm giữ!

Đại đội trưởng Giáp Văn Khương đã lệnh cho các chiến sĩ rút về căn cứ rồi một mình với cây súng trong tay. Lực lượng chênh lệch. Với vũ khí tối tân và quân số đông, chúng ào lên đỉnh núi hòng bắt sống đại đội trưởng Giáp Văn Khương. Giáp Văn Khương đã bắn những viên đạn cuối cùng rồi quyết định nhảy qua những vách đá xuống dòng sông Vân. Giặc Pháp quá bất ngờ về người anh hùng quả cảm này. Chúng khiếp đảm nhìn xuống dòng sông hun hút đã ôm gọn người anh hùng!

Ma nhai- bia đá đề thơ trên Dục Thúy Sơn

Chẳng hay còn trận nào ở Dục Thúy sơn ác liệt nữa nhưng trận ấy đã để lại những di hại nặng nề. Nhiều mảng đá- ma nhai lưu thơ khắc đã bị sứt sẹo, hư hại…

Một trong hàng trăm quả đạn giã xuống núi Thúy đã sạt một góc khoảng đá lưu bài Ngự chế của vua Lê Hiến Tông! (xem ảnh)

Cửa Bắc thành Hà Nội hiện vẫn còn lưu lại hai vết đạn đại bác của Pháp trong cuộc tấn công thành Hà Nội lần thứ 2 dẫn đến sự tuẫn tiết của Tổng đốc thành Hoàng Diệu. Bên cạnh vết đạn, có gắn tấm biển đá (xem ảnh). Trên đó ghi những dòng: 25 avril 1882: Bombarde de la citadelle par les canonnières “Surprise” et “Fanfare” (Ngày 25/04/1882: Vết bắn phá thành của các pháo thuyền “Surprise” và “Fanfare”).

Sử ghi lại, sau sự kiện bắn phá và chiếm thành Hà Nội và sau khi bình ổn Bắc Kỳ, giặc Pháp cho phá hết thành Hà Nội nhưng để lại Cửa Bắc thành Hà Nội như lời cảnh cáo những ai có ý định chống Pháp!

Thiển nghĩ, tại Dục Thúy sơn, nơi vị trí có tấm bia đá đề thơ của vua Lê Hiến Tông cũng nên có tấm biển đề, đại loại: “Ngày… đạn đại bác của Pháp đã làm sạt một góc bia mà vua Lê Hiến Tông từng đề thơ”. Như ghi lại một quá vãng bi thương rằng, 70 năm sau vết đạn thù vết đạn tàn phá của quân xâm lược lại nã tiếp vào tấm bia của một ông vua thi sĩ nước Nam!

Nhớ bữa rời Cố đô Hoa Lư, tôi có tò mò nài thêm anh cán bộ Bảo tàng về tấm bia khắc trên vách động sát mép nước Non Nước. Bia ấy có tựa đề “Dục Thúy sơn thủy bi ký” khắc năm Minh Mạng thứ 18 (1837). Bia ghi rằng có một nhà phú hộ tên là Lê Thế Trường ở vạn Châu Hộ đã xuất tiền thuê người khắc lại văn bia bị mờ trên núi.

Vạn Châu hộ là địa danh nào của Hoa Lư Ninh Bình? Lê Thế Trường là ai mà hằng tâm hằng sản đến vậy? Thời nay có lẽ hơi bị hiếm nếu nói là không có những đấng bậc có nghĩa cử khoáng đạt nhường ấy? Gạn hỏi thêm nhiều người khác nữa, nhưng tiếc rằng chả ai biết? Nhân bài viết này, xin các bực thức giả ai biết về doanh - danh nhân Lê Thế Trường xin được mách giùm?