Sự thật ấn Đền Trần ở Thái Bình

Sự thật ấn Đền Trần ở Thái Bình
TP - Ấn Đền Trần ở Hưng Hà, Thái Bình không phải là ấn của Vua Trần. Đó chỉ là một phiên bản ông chằng bà chuộc, có khả năng phát xuất tận xứ Tàu!

Sự thật ấn Đền Trần ở Thái Bình 

TP - Ấn Đền Trần ở Hưng Hà, Thái Bình không phải là ấn của Vua Trần. Đó chỉ là một phiên bản ông chằng bà chuộc, có khả năng phát xuất tận xứ Tàu!

“Ấn đền Trần” ở Hưng Hà, Thái Bình; Bốn chữ “Thượng nguyên Chu thị” trên ấn đền Trần ở Hưng Hà;
“Ấn đền Trần” ở Hưng Hà, Thái Bình; Bốn chữ “Thượng nguyên Chu thị” trên ấn đền Trần ở Hưng Hà;

 

Bốn chữ “Thượng nguyên Chu thị” theo lối Tiểu triện

(Từ trên xuống dưới, từ phải qua trái)- Ảnh: TL, Thiên Hỏa..

Gần đây, việc khai ấn đầu năm ở các miếu đền có xu hướng xuất hiện ngày một nhiều, đi kèm với hiện tượng đó có không ít chuyện bất cập. Đầu xuân năm nay, ngoài đền Trần ở Nam Định, tại đền Trần ở Hưng Hà tỉnh Thái Bình cũng có lễ khai ấn.

Lễ khai ấn tại đền Trần Hưng Hà bắt đầu vào ngày 13 tháng Giêng, được tổ chức khá quy mô, với sự tham dự của hàng vạn người dân. Đồng thời trong dịp khai ấn này, đã có hàng vạn bản ấn được đóng, phát/bán cho nhân dân. Đối với lễ khai ấn ở ngôi đền này, sự bất cập thể hiện ngay ra ở chính quả ấn được đóng.

Bìa cuốn sách “Từ Tam Canh ấn phổ”.
Bìa cuốn sách “Từ Tam Canh ấn phổ”.

Quả ấn ở trong chum cổ?

Được biết, quả ấn trên vốn được ông Trần Độ - một nghệ nhân gốm ở Bát Tràng cung tiến. Ông Phạm Minh Trọng - Phó chủ tịch UBND huyện Hưng Hà cho phóng viên tờ Văn hóa biết “chính ông là người đã tiếp xúc với ông Trần Độ, … để vận động ông này cung tiến chiếc ấn cho khu di tích đền Trần”.

Khi được phóng viên hỏi về nguồn gốc quả ấn, ông Độ cho biết ông được nhượng lại từ ông Nguyễn Văn Thái - một nhà sưu tầm và nghiên cứu cổ vật ở Hà Nội. Ông Độ thuật lại, nhân khi ông đến nhà ông Thái “thấy một món đồ được ông Thái để dưới gầm tủ. Hỏi cái gì, ông Thái trả lời rằng đó là chiếc ấn của vua Trần. Cả bà vợ ông Thái cũng nói như chồng”. “Ấn của vua Trần” mà ông Thái lại để ở “gầm tủ”?!

Về gốc gác quả ấn, ông Thái cho biết: “Tôi có nó đã hơn chục năm rồi. Lúc ấy nghe tin ở Hòa Bình đào được một cái chum cổ, tôi lên ngay, mua cả chum mang về. Đập chum ra, thấy bên trong có đất, một ít tiền cổ và chiếc ấn này”.

Cả người bán và người mua đều không biết trong chum có vật gì mà vẫn có giao dịch? Không biết trong chum cổ có vật gì, nhưng ông Thái vẫn mua về để... đập, sau khi đập chum ra, ông có được “ấn của vua Trần”(?!).

Đó là chưa kể, thật khó hiểu vì sao mà ấn lại chui vào chum? Và chum thế nào mà lại không lấy được ấn ra theo cách bình thường, mà phải đập?

Khi được hỏi: “… Ông có thể cho biết ông đã mua được chiếc chum đó ở địa phương nào ở Hòa Bình, và người bán cho ông tên gì không?”. Ông Thái đáp rằng: “Thú thật là tôi không nhớ nữa. Tôi chỉ biết ở Hòa Bình, gốm Lý, gốm Trần rất nhiều…”.

Như vậy, có thể thấy rằng nguồn gốc của quả ấn đền Trần tại Hưng Hà - Thái Bình hiện vẫn còn nhiều điểm bất minh. Rất lạ là dù chưa qua giám định của chuyên gia về ấn chương, lễ khai ấn vẫn được tiến hành, quả ấn đã được đem in và phát tán rộng rãi cho nhân dân.

Ấn “Thượng nguyên Chu thị”, trang 20, Sách “Từ Tam Canh ấn phổ”.
Ấn “Thượng nguyên Chu thị”, trang 20, Sách “Từ Tam Canh ấn phổ”.
 

Hoang mang vì chữ trên ấn

Trên mặt ấn đền Trần tại Hưng Hà khắc bốn chữ. Được biết, trong buổi làm việc tại Sở Văn hóa thể thao du lịch và Bảo tàng tỉnh Thái Bình ngày mồng 7 tháng 4, một phóng viên “có hỏi nhiều cán bộ có trách nhiệm về nghĩa của những chữ này thì ai cũng lắc đầu không dám khẳng định bất cứ nội dung nào được nêu ra”(?!).

Ông Vũ Đức Thơm - Giám đốc Bảo tàng tỉnh Thái Bình - cho rằng đó là bốn chữ “Thiên nhân hộ quốc”. Ông cho “Hai chữ “thiên nhân” dễ nhận ra”, còn hai chữ “hộ quốc” là do ông “đoán vậy”.
Ông Thơm nói rằng ông cũng đã thông qua một cán bộ ở Bộ Công an, “nhờ GS Vũ Khiêu đọc giúp, và GS trả lời rằng đó là bốn chữ “Quốc vương thiên nhân”.

Ông Phạm Minh Trọng - người vận động ông Trần Độ cung tiến quả ấn - thì thừa nhận rằng ông “không biết chính xác nội dung bốn chữ đó”, ông chỉ được nghe người ta nói lại nội dung bốn chữ đó nhưng ông cũng không dám chắc nó có nghĩa gì!

Cụ Nguyễn Tiến Đoàn, nhà nghiên cứu văn hóa, người rất giỏi chữ Hán, đã phủ nhận cả hai cách đọc “Thiên nhân hộ quốc” và “Quốc vương thiên nhân”, khẳng định đó là “kiểu chữ triện”, “chữ trong lòng ấn lại khắc ngược, muốn đọc nó, phải nhìn chiều trái phía sau tấm lụa đóng ấn”.

Theo cụ: “Nhìn chiều trái đằng sau, thì bốn chữ ấy là “Chu thị Thượng nguyên”, còn nhìn chiều phải, nó là “Thượng nguyên Chu thị”, có nghĩa là “Tiết Thượng nguyên nhà họ Chu”, vậy thôi”. Khi được hỏi “Phải chăng đây là ấn riêng của nhà họ Chu nào đó?”, cụ cho rằng “Điều này còn phải nghiên cứu thêm”, nhưng theo cụ, đây “khó có thể là ấn của vua được”.

Như vậy, chỉ với bốn chữ trên quả ấn đền Trần tại Hưng Hà, hiện ít nhất đã có ba cách đọc khác nhau. Vấn đề được mọi người quan tâm là rốt cục bốn chữ khắc trên ấn đền Trần Hưng Hà là những chữ gì? Tại sao lại khắc những chữ đó? Nội dung của nó có phù hợp với đền Trần không?

Văn bản của Cục Di sản văn hóa gửi Bộ trưởng (trích) khẳng định rõ bản chất của “ấn đền Trần” ở Thái Bình.
Văn bản của Cục Di sản văn hóa gửi Bộ trưởng (trích) khẳng định rõ bản chất của “ấn đền Trần” ở Thái Bình.

Nhái mẫu ấn trong sách

Có thể dễ dàng khẳng định quả ấn được khắc bốn chữ, đó là thể chữ Triện, vốn thông dụng từ thời Chiến quốc cho đến thời Tần.

Bốn chữ này khắc nổi (dương văn), và đúng như cụ Nguyễn Tiến Đoàn đã khẳng định, chúng đã bị “khắc ngược” (vì bốn chữ này được khắc xuôi trên ấn, nhưng khi đóng ấn, chúng sẽ thành ngược, trái với thông lệ).

Trong ba cách đọc nêu trên, không quá khó để khẳng định cách đọc của cụ Nguyễn Tiến Đoàn mới là chuẩn xác.

Đây là bốn chữ “Thượng nguyên Chu thị” theo lối chữ Tiểu triện tiêu chuẩn, và bốn chữ với nội dung tương tự trên ấn đền Trần ở Hưng Hà:

Tuy đọc đúng bốn chữ khắc trên quả ấn, song cách cụ Nguyễn Tiến Đoàn dịch “Thượng nguyên Chu thị” là “Tiết Thượng nguyên nhà họ Chu” tuy đã khá dễ hiểu song thực ra cũng chưa hoàn toàn thuyết phục. Cứ coi các chữ ở đây dùng với nghĩa thông dụng nhất (“Chu thị” là “Họ Chu”, “Thượng nguyên” là “tiết Thượng nguyên”), thì theo cú pháp Hán văn, cần dịch là “Họ Chu [của] tiết Thượng nguyên”.

Tuy nhiên, dẫu dịch như vậy thì bốn chữ này vẫn tối nghĩa và trái với logic thông thường. Bỏ qua nhiều yếu tố bất cập khác của quả ấn, riêng xét nội dung bốn chữ được khắc trên ấn, dẫu hiểu cách gì đi chăng nữa thì chúng cũng không có nghĩa nào phù hợp với di tích thờ các vị vua sáng tôi hiền thời nhà Trần.
Vậy gốc gác bốn chữ kia từ đâu mà ra? Rốt cục ý nghĩa đích thực của nó là gì?

Trong nghề làm dấu (ấn chương), thợ khắc thường lấy mẫu chữ trên ấn chương của các danh gia thời trước (hoặc các chữ mẫu nói chung), khắc xuôi chiều lên con dấu. Với cách khắc như vậy, để biết nội dung con dấu, người đọc/xem chỉ cần coi trực tiếp trên quả ấn. Kiểu khắc này chủ yếu để trang trí, trưng bày, vì nếu đem đóng thì chữ sẽ bị ngược.

Tìm hiểu theo hướng này, xem tác phẩm ấn chương của danh gia triện khắc các đời để lại, kết quả cho thấy quả ấn đền Trần ở Hưng Hà lấy mẫu từ chiếc ấn khắc bốn chữ tương tự do Từ Tam Canh, một nghệ thuật gia nổi tiếng về thư pháp và triện khắc cuối thời nhà Thanh ở Trung Quốc sáng tác.

Muốn kiểm chứng, ta có thể xem các sách tập hợp tác phẩm của Từ Tam Canh, chẳng hạn sách Từ Tam Canh ấn phổ, do Thượng Hải Thư tịch xuất bản năm 1993. Trong sách này, ấn “Thượng nguyên Chu thị” ở trang 99. Hoặc xem Tăng bổ Từ Tam Canh ấn phổ, bản in ảnh ấn của Vũ Hán Cổ tịch thư điếm năm 1990. Trong sách này, ấn “Thượng chương Chu thị” ở trang 20.

Từ Tam Canh (1826-1890), tên tự là Tân Cốc và Sân Quách, hiệu là Toàn Lôi, Tỉnh Lôi, Kim Lôi đạo nhân, v.v… người ở Đại Cần, Chương Trấn, Thượng Ngu (thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc).

“Thượng nguyên Chu thị” là ấn chương do Từ Tam Canh khắc theo yêu cầu của một người họ Chu tại huyện Thượng Nguyên đương thời (huyện Thượng Nguyên có từ thời Đường, sau nhiều lần thay đổi, đến năm 1912 sáp nhập vào huyện Giang Ninh, nay thuộc tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc). Do vậy, bốn chữ “Thượng nguyên Chu thị” (viết đúng chính tả là “Thượng Nguyên Chu thị”), có nghĩa là: “[Ấn chương] của [người] họ Chu ở huyện Thượng Nguyên”.

Từ Tam Canh sinh năm 1826, mất năm 1890. Thấy ngay quả ấn “Thượng Nguyên Chu thị” đến nay mới chỉ có niên đại chưa đến hai trăm năm. Ấn do Từ Tam Canh khắc, theo bản in, vốn là ấn tên riêng (danh chương), chữ khắc chìm (âm văn), khi in thì đường nét chữ hiện màu trắng (cho nên còn gọi là “bạch văn ấn”).

Ấn đền Trần ở Hưng Hà khắc nổi (dương văn), khắc bị ngược. Còn con rồng trang trí trên ấn mang phong cách thời Hán, là vì Từ Tam Canh khi làm ấn thường phỏng theo phong cách ấn chương thời Tần - Hán, nên người đời sau khi mô phỏng ấn chương của ông cũng cố gắng học theo.

Từ đó mà suy, ấn đền Trần ở Hưng Hà có dấu hiệu chỉ là một phiên bản “ông chằng bà chuộc” phỏng theo một cái danh chương cá nhân của một người họ Chu ở huyện Thượng Nguyên, Trung Quốc không hơn không kém, hoặc có thể là sản phẩm mĩ nghệ, ấn trưng bày, ấn mẫu của một cửa hàng khắc ấn nào đó ở Trung Quốc (?).

Đem ấn chương “nhái”, mô phỏng theo bản ấn do Từ Tam Canh người cuối thời Thanh khắc (bị khắc ngược) về đóng ở đền thờ các bậc vua sáng tôi hiền nhà Trần, phát tán cho hàng vạn dân, tự “nhận vơ” là ấn cổ, ấn quý, “ấn vua Trần”,… việc làm u tối, hồ đồ và tắc trách như vậy phải chăng không chỉ liên quan đến sự hạn chế về nhận thức mà còn liên quan đến nhiều vấn đề khác nữa?

Thử hỏi những người dân đã đến đền Trần ở Hưng Hà tỉnh Thái Bình xin ấn với biết bao ước muốn giờ đây sẽ nghĩ gì, cảm thấy thế nào khi biết rằng bản ấn mà họ đã xin, mua được thực chất chỉ là bản ấn được in ra từ một quả ấn rởm, khắc ngược…chứ hoàn toàn không phải là “ấn vua Trần”?

Trường Phong

Cùng chuyên mục

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.

Gom rác đổi cháo sáng

Gom rác đổi cháo sáng

TPO - Từ những chai nhựa, vỏ lon, giấy vụn được gom lại từ mỗi gia đình, người dân xã Nghĩa Giang (tỉnh Quảng Ngãi) có thể đổi lấy cháo nóng. Những thứ từng bị xem là rác bỏ đi đang được biến thành nguồn quỹ để sẻ chia với người khó khăn.

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

TP - Từ những luống dâu ven sông Trà Khúc đến lò mật mía đỏ lửa, nhiều người trẻ ở Quảng Ngãi đang tìm cách đưa nghề truyền thống trở lại đời sống bằng tư duy mới. Không chỉ giữ nghề của cha ông, họ còn từng bước biến những giá trị văn hóa thành sản phẩm hàng hóa, tạo sinh kế và mở ra hướng phát triển mới cho quê hương.

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

TPO - Từ câu chuyện chực chờ bị ‘xóa sổ’ của cồn Thanh Long ở Vĩnh Long do sạt lở đã ngoài tầm kiểm soát, cho thấy giải pháp chống sạt lở cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên cấp bách, tốn kém. Đặc biệt, việc giảm khai thác cát sông đang ngày càng cần thiết để giảm sạt lở, xâm thực đất đai trù phú của vùng đồng bằng này.

Concert Thanh xuân thu hút khoảng 2 vạn bạn trẻ Ảnh: Như Ý

Chạm vào kí ức

TP - Vệt nắng chiều lóa trên những huân chương của cha nơi bức tường cũ, bừng lên trong tôi màu bất diệt của thanh xuân - sự tận hiến mãi mãi tuổi đôi mươi mà thời gian là kẻ đứng rìa. Và đêm nay, giữa sóng cuộn của tuổi trẻ, một lần nữa tôi cúi đầu tri ân. Đó là giai điệu giao hòa mang tên tình yêu Tổ quốc trong đêm Thanh xuân…

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

TPO - Mỗi mùa mưa, lũ về, những hộ dân sống ven sông Cửa Lớn, đoạn qua xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau lại phải sống thấp thỏm với sạt lở. Có căn nhà bị “hà bá” nuốt trọn chỉ trong một đêm, có con đường bị dòng nước ngoạm mất, người dân phải tự tháo dỡ nhà, dựng cầu tạm để có lối đi.

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

TP - Dưới bóng trăng Phồn Xương, tiếng sáo sắt “Thiết địch thần phong” từng gắn với những năm tháng khởi nghĩa Yên Thế (tỉnh Bắc Ninh), nay đang được đánh thức, đưa võ sáo từ ký ức lịch sử trở thành di sản phát triển du lịch.

Tàu sân bay Mỹ USS George Washington trên vịnh Đà NẵngẢnh: Nguyễn Thành

Bất ngờ lời chào tiếng Việt trên tàu sân bay Mỹ

TP - Từ biển khơi, giữa tiếng sóng, tiếng động cơ và những mệnh lệnh bằng tiếng Anh, bất ngờ một giọng nữ cất lên qua bộ đàm tàu Pilot của Hoa tiêu hàng hải: “Xin chào các Hoa tiêu Việt Nam. Tôi người gốc Việt, chúng ta có thể trao đổi bằng tiếng Việt”. Khoảnh khắc ấy khiến những người có mặt trên tàu hoa tiêu không khỏi bất ngờ, thích thú và xúc động.

Hàng trăm điểm sạt lở mới, nhiều nơi ở Cần Thơ ‘báo động đỏ’

Hàng trăm điểm sạt lở mới, nhiều nơi ở Cần Thơ ‘báo động đỏ’

TPO - Dọc từ cửa biển cuối sông Hậu vào sâu trong đất liền, những vết sạt lở đang ngày một dài thêm. Rừng phòng hộ bị sóng biển cuốn đi, thân đê trơ trọi trước con nước. Ven sông, đường làng sụp xuống từng mảng, người dân thấp thỏm mỗi đêm vì không biết đất dưới chân mình sẽ biến mất lúc nào.

Đồng bào vui mừng khi thấy ngôi trường khang trang mọc lên giữa núi rừng Ảnh: Lê Văn Chương

Xây trường liên cấp giữa đại ngàn Trường Sơn-Bài cuối: Niềm vui trường mới

TP - Đã qua rồi thời những cậu học trò nhỏ Giẻ Triêng, Cơ Tu phải đùm cơm mì nướng, đi bộ ròng rã 7 ngày đêm băng qua những cánh rừng rình rập thú dữ để đến trường. Hôm nay, giữa những ngọn núi mờ sương của dãy Trường Sơn, một “mái ấm tri thức” bề thế đang mọc lên trong giọt mồ hôi của những người lính áo xanh và niềm tin son sắt của dân bản.