Tuổi thơ Nguyễn Nhược Pháp, chuyện ít người biết

Tuổi thơ Nguyễn Nhược Pháp, chuyện ít người biết
TP - Hai tuổi mồ côi mẹ, hưởng dương tròn hai Giáp (24 năm), người con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh thật là điển hình của sự bất công tạo hóa.

Thế nhưng tạo hóa đã bù lại, ban cho con người những thiên bẩm, tài hoa đặc biệt. Đó là một trang nam nhi tuấn tú, đa tài, gắn trên bầu trời thi ca nước Việt những ánh sao lung linh - nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp
Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp.

Nguyễn Nhược Pháp là kết quả mối tình sét đánh giữa học giả Nguyễn Văn Vĩnh, một người đa tài, đa tình đất Hà thành và cô gái Lạng Sơn, Phan Thị Lựu.

Năm 1913 ông Vĩnh có khách sạn Trung Bắc ở nhà 50 phố Hàng Trống, gần hồ Gươm - Hà Nội… Cô Lựu thường qua lại trọ ở khách sạn, nên quen biết ông Vĩnh. Rồi do duyên số, họ nên vợ nên chồng.

Khách sạn Trung Bắc nằm trong khuôn viên rộng mấy nghìn mét vuông. Mặt trước quay chính phố Hàng Trống, mặt sau quay ra phố Lý Quốc Sư. Cả hai mặt đều có cổng lớn, bên trong xung quanh có vườn, cây cối xanh tươi và cổ thụ. Giữa khuôn viên này là một biệt thự ba tầng, trang bị hiện đại để làm nhà khách sạn.

Bà Phan Thị Lựu ở tầng hai. Tại mảnh đất thơ mộng này, ngày 12-12-1914, Nguyễn Nhược Pháp ra đời, sau này tên tuổi in đậm trong “Thi nhân Việt Nam”.

Ông Vĩnh đi làm, đến trưa thì nghỉ lại khách sạn với người vợ hai, tối mới về phố Mã Mây với vợ cả và các con. Tưởng thế cũng là yên ổn, nhưng số phận con người đa tài, đa tình lại vướng bận thêm nhiều và không thể dừng ở đó.

Vừa tuổi lên 2 (năm 1916), Nguyễn Nhược Pháp mồ côi mẹ. Khi biết tin ông Vĩnh có thêm một người đàn bà khác, mà là một cô đầm lai đẹp như thiên thần, thì Phan Thị Lựu không làm chủ được tình cảm của mình. Nỗi ghen tuông đã trào lên và bà đã tìm cái chết để giải thoát.

Chập chững những bước chân trên đường đời, Nguyễn Nhược Pháp được bà Đinh Thị Tính - vợ cả ông Vĩnh - mẹ cả đón về nuôi như con đẻ, với một câu thở than: Cái bà Lựu ghen ngược. Người ghen phải là tôi…

Từ đó cho đến lúc lìa đời, suốt 22 năm (1916- 1938), Nguyễn Nhược Pháp đều sống với những người anh em cùng cha khác mẹ, trong một đại gia đình, thật vui vẻ và nhiều kỷ niệm sâu sắc.

Đọc những trang hồi ức của những người thân trong gia đình phần nói về tuổi thơ Nguyễn Nhược Pháp, mới thấy rằng đây là một con người có nhiều phẩm chất cao quý, khi còn ấu thơ.

Năm 1923, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh đã chuyển từ phố Mã Mây về phố Thụy Khuê, trước trường Bưởi (trường Chu Văn An bây giờ) gần hồ Tây.

Đây là một trong những tài sản lớn của ông F.H Schneider- một người Pháp, vốn là đồng nghiệp làm nhà in, xuất bản báo, vì yêu mến ông Vĩnh đã chuyển nhượng cho trước khi ông này về hưu ở cố quốc.

Nhà ông Vĩnh đông người, nhiều con, lại thêm bạn các con ở tỉnh lẻ về ở nhờ để tiện bề ăn học… vậy mà vẫn rất thoải mái.

Gia sản đất đai của Schneider là một khu đất rộng hơn ba nghìn mét vuông. Trong này có biệt thự hai tầng, có xưởng máy giấy mái vòm, bê tông cốt thép, không cột. Ông Vĩnh sửa lại thành nhà thờ và nhiều phòng để ở. Có mười gian nhà ngang, có bếp, nhà để xe, các phòng cho người nhà sinh hoạt…

Bấy giờ hai người con lớn của bà Vĩnh là Nguyễn Hải và Nguyễn Giang đang đi học ở nước ngoài. Còn ba người con gái: Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Thị Vân đã lớn, được ở khu biệt thự với bà Vĩnh và một người cô ruột là bà Nguyễn Thị Tý, làm dược sỹ ở nhà thương Phủ Doãn… Nguyễn Nhược Pháp được ở chung với 7 anh chị em còn nhỏ tuổi ở khu nhà ngang.

Trong đó có Nguyễn Thị Mười, Nguyễn Dực, Nguyễn Hồ còn quá nhỏ, không tự lực được trong sinh hoạt, nên có một u già trông nom… Họ sống rất thoải mái, tự do và khép kín, tự quản, dường như người lớn không ai để ý đến…

Buổi sáng hằng ngày, Nhược Pháp cùng anh chị em học chữ nho khoảng nửa giờ do ông tú tài Phùng Năng Tĩnh người Bát Tràng làm gia sư, dạy dỗ. Rồi họ đạp xe đi học trường tư. Mọi sinh hoạt khác như giặt quần áo, cơm nước đã có người lo hết.

Trong số 7 anh em, Nhược Pháp là con bà hai, được coi là anh, mặc dù sinh sau Nguyễn Dương (con mẹ cả) mấy tháng. Thời xưa xã hội coi những người con vợ bé, chỉ là con thêm vợ nhặt. Nhưng nhà ông Vĩnh không hành xử theo lối ấy.

Theo kể lại, Nguyễn Nhược Pháp thông minh, đẹp trai, học giỏi có đầu óc tổ chức, nhiều sáng kiến, làm đầu tầu cho các em trong các hoạt động, sinh hoạt thể thao, vui chơi rất văn hóa.

Nhược Pháp có sáng kiến làm một bản hợp đồng nội bộ, cấm nói nhảm nhí. Cậu soạn ra khoảng 50 câu thông dụng hằng ngày mọi người cần tránh, ví như những từ ngữ: đếch, bỏ mẹ, bỏ xừ…, hoặc những câu chửi thề không ai được nói… Ai lỡ lời nói, người nào nghe thấy, có quyền cốc vào đầu, véo tai, coi như một hình thức phạt.

Nhược Pháp có sáng kiến làm một bản hợp đồng nội bộ, cấm nói nhảm nhí. Cậu soạn ra khoảng 50 câu thông dụng hằng ngày mọi người cần tránh, ví như những từ ngữ: đếch, bỏ mẹ, bỏ xừ…, hoặc những câu chửi thề không ai được nói… Ai lỡ lời nói, người nào nghe thấy, có quyền cốc vào đầu, véo tai, coi như một hình thức phạt.

Nhược Pháp bày trò tập bơi. Khi thì hồ Tây, khi thì ra ao đình làng Thụy Khuê, lúc đến hồ Trúc Bạch. Bảy anh em đều biết bơi kể cả con gái. Nhược Pháp yêu môn bơi lội nhất. Cho tới những ngày mới bị bệnh, anh vẫn chưa chịu bỏ bơi.

Ngày chủ nhật, Nhược Pháp tổ chức đua xe quanh Hồ Tây, có giải thưởng, thu hút các bạn học cùng tham gia. Lại tổ chức trượt pa-tanh. Ban đầu chơi trên đường Hoàng Hoa Thám, sau đường đua dài đến Quần Ngựa, vòng trở về lối Thụy Khuê… Rồi tổ chức tham quan du lịch bằng xe đạp, quanh Hồ Tây, rồi quanh Hà Nội và đi xa hơn.

Mỗi tuần, cha thường cho các con tiền đi xem chiếu bóng, Nhược Pháp rủ rê mấy anh chị lớn hơn, để dành tiền ấy, làm vốn in báo Tuổi Cười. Nhược Pháp làm chủ nhiệm, Nguyễn Phổ làm chủ bút, Nguyễn Kỳ quản lý nhà in. Báo in thạch, hai màu đỏ và tím.

Mỗi tháng một số, có 16 trang, khổ 15x20 cm. Nội dung tờ báo là thông báo những tin tức gia đình, nêu tên ai học giỏi, phê phán những việc xấu. Lại có trang thể thao, biểu dương kỷ lục mới( trong gia đình ), có quảng cáo các buổi diễn kịch, diễn xiếc do anh chị em tổ chức trong nhà. Trang cuối có in thơ của Nhược Pháp sáng tác.

Mỗi số ra 10 tờ, bán 5 xu cho người lớn và các anh chị lớn. Báo phát hành được mấy năm. Sau này lớn lên, Nhược Pháp đã chọn những bài thơ trong báo Tuổi Cười, thành tập thơ Ngày Xanh.

Nhược Pháp còn tổ chức một đội kịch gia đình, mà chính anh viết kịch bản và đạo diễn… Các anh chị em làm diễn viên.

Nhà có xưởng in rộng, họ kê bàn ghế thành sân khấu, tạm dùng câu đối nhà thờ trang trí, lại làm phông màn, chăng điện… nghĩa là như sân khấu thật. Giá vé 5 xu một chỗ ngồi.

Những người lớn trong nhà cũng mua vé và ngồi xem cổ vũ con em mình… Có buổi ông Vĩnh cũng ngồi xem các con diễn, ông thấy lòng tràn ngập niềm vui… Nhược Pháp còn hướng dẫn thành lập đội xiếc, phân vai diễn: Người diễn xiếc xe đạp, người làm ảo thuật,, người dậy thú, người thổi kèn.

Nguyễn Nhược Pháp có những thú vui thật giản dị, không giống bất cứ một thiếu gia nào thời bấy giờ. Chăm chỉ học hành, yêu quý mọi người, và biết tự lập. Viết xong một bài thơ, một truyện ngắn, vở kịch…khi có tiền nhuận bút thì rủ một hai em, hay vài bạn bè đi ăn phở xách Nghi Xuân bang thất ở phố Hàng Đàn, giá 5 xu một bát…

Nhược Pháp đã viết được một số vở kịch, và có một ước mơ, là cùng với Phạm Huy Thông, bạn học thời ở Trung học Albert Saraut, tri kỷ văn chương, cùng nhau tổ chức một Đoàn kịch không chuyên, đưa lên sân khấu vở kịch Người học vẽ của mình.

Nhược Pháp như một trang giấy trắng thơm, một bông hoa thanh khiết. Vào những năm cuối đời, trái tim chàng thi sỹ, tác giả bài thơ Chùa Hương đã xôn xang trước một cô gái áo đen, phố Hàng Đẫy, như một lời tỏ tình.

Đó là một tiểu thư, một trong tứ mỹ Hà thành bấy giờ. Hằng ngày đạp xe qua nhà, đứng bên này đường nhìn vào vườn nhà em, ngắm nhìn bóng em thấp thoáng. Rồi hình ảnh cô gái áo đen trong vườn của nhà họ Đỗ ở phố Hàng Đẫy, cứ sống mãi trong tim Nhược Pháp...

Nhược Pháp chưa tường mặt thân mẫu của mình, nhưng được mẹ cả hết lòng yêu thương, như con đẻ. Trước khi nhắm mắt ra đi về cõi vĩnh hằng, bà dặn lại Hãy đặt mộ của tôi nằm bên cạnh Nhược Pháp.

Nguyễn Nhược Pháp sinh ra là hoạt động, cả đến khi nhuốm bệnh vẫn không ngừng ý chí vươn lên vượt qua số mệnh.

Từ 2 tuổi Nhược pháp sống với mẹ cả ở Mã Mây rồi đi học vỡ lòng. 6 năm tiếp theo học phổ thông trường Trí Tri (phố Hàng Đàn và Trung Bắc học hiệu- phố Lý Quốc Sư). 14 tuổi thi đỗ lớp 6 Trường trung học Albert Saraut. 20 tuổi đỗ tú tài phần nhất, 1935 đỗ tú tài phần hai, vào Đại học luật. Nhược Pháp luôn học giỏi, xứng đáng cho các em noi theo.

Từ năm 1930 trở đi, kinh tế gia đình Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu khó khăn trầm trọng. Nguyễn Nhược Pháp vừa đi học để thi tú tài, thi đại học Luật, vừa làm ở tòa báo An Nam mới, viết thơ… để có tiền nhuận bút, giảm bớt chi tiêu của gia đình cho mình…

Từ sau khi chị Nội đang đi học Luật năm thứ ba mắc bệnh mất (1933), rồi cha mất( 1936), chị Vân mất( 1938), và tin anh Hải mất trong Nam… Nhược Pháp buồn đau, nhuốm bệnh lao hạch…

Ngày 19-11-1938 ông trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Đồn Thủy, hưởng dương 24 tuổi.

Ông để lại ba bức thư. Một bức viết bằng chữ Pháp, cám ơn các thầy thuốc đã hết lòng cứu chữa. Một bức thư vĩnh biệt mẹ cả và gia đình( khi ấy ông Vĩnh mất được
hai năm).

Một bức gửi cho người anh là nhà thơ Nguyễn Giang, với tâm nguyện, hãy chăm sóc mẹ cả và các em nhỏ tốt hơn nữa.

Ban đầu, thi hài Nhược Pháp được mai táng ở nghĩa trang Hợp Thiện, Quỳnh Lôi, Mai Động, Hà Nội, sau được bốc mộ về làng Phượng Dực, quê cha.

____

Bài viết lấy tư liệu từ gia đình nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp.

Cùng chuyên mục

Công an cơ sở tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” Ảnh: NN

'Bóng ma đồ độc' ám ảnh vùng cao Quảng Ngãi

TP - Ở một số bản làng miền núi Quảng Ngãi, hủ tục nghi kỵ “cầm đồ thuốc độc” vẫn âm ỉ tồn tại, len vào những mâu thuẫn đời thường, những cơn bệnh chưa được lý giải bằng khoa học. Từ một lời phán của thầy cúng, hàng xóm có thể thành kẻ thù, người vô tội bị cô lập, đánh đập, thậm chí mất mạng.

Cán bộ Trạm Y tế xã Buôn Đôn đi bộ đến từng hộ dân tại buôn Đrăng Phốk để tiêm vắc xin cho trẻ

'Cõng' vắc xin tìm trẻ giữa đại ngàn

TP - Không để người dân vất vả đưa con đến trạm y tế, vào ngày 16 hằng tháng, cán bộ y tế xã vùng xa tỉnh Đắk Lắk vượt hơn 20km đường rừng đều đặn mang vắc xin vào tận buôn. Chuyến đi của họ đã mang thêm một lớp bảo vệ đến với những đứa trẻ nơi vùng lõi rừng, từng ngày rút ngắn giữa dịch vụ y tế và người dân.

Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

TP - Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Cựu chiến binh Nguyễn Duy Kháng và cô giáo HươngẢnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài cuối: Trái tim cô giáo trẻ dành trọn tiếng "tít te"

TP - Tháng 2/1970, bên dòng sông Vệ (Hành Thịnh, Quảng Ngãi), những chiếc HU-1A còn gọi là tàu rọ liên tục quần đảo, gầm rít trên bầu trời. Giữa khói lửa chiến tranh, trái tim một cô giáo trẻ lại bị cuốn vào âm thanh “tít te” không ngừng của một cậu lính thông tin quê Thái Bình. “Cái này bí mật, không thể giải thích” – chàng lính Nguyễn Duy Kháng mỉm cười nói với cô giáo Nguyễn Thị Thanh Hương về công việc của mình.

Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

TP - Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất chết đối với quân đội chính quyền Sài Gòn. Y sĩ Lại Vũ Yên đã trải qua những ngày gian nan tại đây, sau đó kết hôn với cô du kích…

 Ông Trương Minh Hải, Tổ trưởng Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản phường Hồng Ngự chăm sóc đàn cá tự nhiên Ảnh: Hoà Hội

'Ngôi nhà' của đàn cá trên sông Tiền

TP - Xuất phát từ ý tưởng giữ cá lại với dòng sông, người dân vùng đầu nguồn Hồng Ngự (Đồng Tháp) đã biến đoạn bờ kè bình dị thành “bến đỗ an toàn” của đàn cá hàng nghìn con. Cá được cho ăn, bảo vệ và sinh trưởng tự nhiên. Mô hình độc đáo này không chỉ góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản mà còn đánh thức tình yêu thiên nhiên trong cộng đồng.

Chiến dịch 500 ngày đêm đang được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ Hành Thịnh, xã Đình Cương. Trong số các liệt sĩ nằm lại, có nhiều người là đồng đội của vợ chồng ông Tân Ảnh: Lê Văn Chương

Những người lính ở lại núi Dàng: Mối tình lính DKB và cô y tá

TP - Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi đất nước hòa bình, hầu hết những người lính gác lại súng gươm để trở về với quê nhà, mang theo ký ức của một thời hoa lửa. Thế nhưng, tại xã Hành Thịnh (nay là xã Đình Cương) nằm dưới chân núi Dàng- vùng căn cứ cách mạng của Quảng Ngãi, vẫn có những người lính ở lại. Đầu tháng 9 này, họ đang lặng lẽ dõi theo từng nhát cuốc của Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đang thực hiện Chiến dịch 500 ngày đêm.

Phiên chợ Sâm Ngọc Linh và dược liệu được tổ chức đều đặn mỗi tháng ở phố du lịch sầm uất của Đà Nẵng Ảnh: Giang Thanh

Quà quê kể chuyện Đà Nẵng

TP - Một tấm chiếu cói kể chuyện làng nghề, chai tinh dầu kể chuyện vùng dược liệu hay món đặc sản kể chuyện miền quê. Khi những món “quà quê” được đặt trong không gian trải nghiệm du lịch, câu chuyện về Đà Nẵng có cơ hội chạm vào du khách và theo họ đi xa hơn.

Gom rác đổi cháo sáng

Gom rác đổi cháo sáng

TPO - Từ những chai nhựa, vỏ lon, giấy vụn được gom lại từ mỗi gia đình, người dân xã Nghĩa Giang (tỉnh Quảng Ngãi) có thể đổi lấy cháo nóng. Những thứ từng bị xem là rác bỏ đi đang được biến thành nguồn quỹ để sẻ chia với người khó khăn.

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

Khát vọng hồi sinh nghề xưa của người trẻ Quảng Ngãi

TP - Từ những luống dâu ven sông Trà Khúc đến lò mật mía đỏ lửa, nhiều người trẻ ở Quảng Ngãi đang tìm cách đưa nghề truyền thống trở lại đời sống bằng tư duy mới. Không chỉ giữ nghề của cha ông, họ còn từng bước biến những giá trị văn hóa thành sản phẩm hàng hóa, tạo sinh kế và mở ra hướng phát triển mới cho quê hương.

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

Cồn Thanh Long trước lựa chọn nghiệt ngã: Giữ cồn hay đưa dân vào bờ?

TPO - Từ câu chuyện chực chờ bị ‘xóa sổ’ của cồn Thanh Long ở Vĩnh Long do sạt lở đã ngoài tầm kiểm soát, cho thấy giải pháp chống sạt lở cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên cấp bách, tốn kém. Đặc biệt, việc giảm khai thác cát sông đang ngày càng cần thiết để giảm sạt lở, xâm thực đất đai trù phú của vùng đồng bằng này.

Concert Thanh xuân thu hút khoảng 2 vạn bạn trẻ Ảnh: Như Ý

Chạm vào kí ức

TP - Vệt nắng chiều lóa trên những huân chương của cha nơi bức tường cũ, bừng lên trong tôi màu bất diệt của thanh xuân - sự tận hiến mãi mãi tuổi đôi mươi mà thời gian là kẻ đứng rìa. Và đêm nay, giữa sóng cuộn của tuổi trẻ, một lần nữa tôi cúi đầu tri ân. Đó là giai điệu giao hòa mang tên tình yêu Tổ quốc trong đêm Thanh xuân…

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

Mùa sạt lở bên dòng Cửa Lớn

TPO - Mỗi mùa mưa, lũ về, những hộ dân sống ven sông Cửa Lớn, đoạn qua xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau lại phải sống thấp thỏm với sạt lở. Có căn nhà bị “hà bá” nuốt trọn chỉ trong một đêm, có con đường bị dòng nước ngoạm mất, người dân phải tự tháo dỡ nhà, dựng cầu tạm để có lối đi.

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

Huyền thoại võ sáo dưới bóng trăng Phồn Xương

TP - Dưới bóng trăng Phồn Xương, tiếng sáo sắt “Thiết địch thần phong” từng gắn với những năm tháng khởi nghĩa Yên Thế (tỉnh Bắc Ninh), nay đang được đánh thức, đưa võ sáo từ ký ức lịch sử trở thành di sản phát triển du lịch.

Tàu sân bay Mỹ USS George Washington trên vịnh Đà NẵngẢnh: Nguyễn Thành

Bất ngờ lời chào tiếng Việt trên tàu sân bay Mỹ

TP - Từ biển khơi, giữa tiếng sóng, tiếng động cơ và những mệnh lệnh bằng tiếng Anh, bất ngờ một giọng nữ cất lên qua bộ đàm tàu Pilot của Hoa tiêu hàng hải: “Xin chào các Hoa tiêu Việt Nam. Tôi người gốc Việt, chúng ta có thể trao đổi bằng tiếng Việt”. Khoảnh khắc ấy khiến những người có mặt trên tàu hoa tiêu không khỏi bất ngờ, thích thú và xúc động.