Google News

Một vòng Kinh Bắc

TP - Khởi từ đền Bà chúa Then, qua Hội Lim, làng tranh Đông Hồ, lăng Kinh An Dương Vương và kết thúc ở chùa Dâu, chuyến du Xuân đầu năm của chúng tôi ở Bắc Ninh đi qua một vòng cung không dài về địa lý, nhưng dày đặc lớp trầm tích văn hóa. Trên quãng đường ấy, lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật dân gian xếp chồng lên nhau, đan xen thành một bản đồ ký ức mà mỗi điểm dừng đều mở ra một tầng nghĩa riêng.

Nghe câu hát hội Lim gặp màu giấy dó

Sáng tháng Giêng, đồi Lim còn phủ một lớp mưa bụi mỏng. Dưới chân đồi, dòng người đổ về mỗi lúc một đông. Hội Lim bắt đầu như cách nó đã diễn ra suốt nhiều thế kỷ, lấy diễn xướng dân gian làm trung tâm nghi lễ.

Những liền anh, liền chị đứng thành từng nhóm nhỏ, dưới mái đình, trên thuyền rồng neo bên hồ bán nguyệt, đối đáp bằng những làn điệu cổ. Họ gọi nhau bằng anh, chị và xưng em hoặc tôi. Người Quan họ gặp nhau, sau câu chào, mỗi lời muốn nói đều có “thưa”, trước mỗi câu hát, các liền chị đáp lại đều bắt đầu bằng câu “dạ”.

bn1.jpg
Đoàn Báo Tiền Phong tham quan đền Bà Chúa Then (Bắc Ninh). Ảnh: Hồ Như Ý

Giới nghiên cứu văn hóa nhiều lần nhận định rằng, diễn xướng Quan họ ở Hội Lim mang sắc thái trữ tình và linh hoạt hơn so với các sinh hoạt Quan họ tại làng xã khác. Không gian đồi Lim tạo thành một sân khấu tự nhiên, câu hát có thể vang lên giữa sân chùa, bến nước, gốc đa, giữ trọn cấu trúc đối đáp truyền thống mà vẫn thích ứng với bối cảnh hiện đại.

Trẩy hội Lim, người yêu quan họ mọi lứa tuổi, mọi thành phần đều có thể tìm được “idol” của riêng mình bởi những nghệ sĩ biểu diễn quan họ có thể bao gồm cả thế hệ nghệ nhân gạo cội đến những liền anh, liền chị măng non. Bởi sự độc đáo này, năm 2009, dân ca Quan họ Bắc Ninh đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Và năm nay, hội Lim chính thức được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Không xa đồi Lim là làng tranh Đông Hồ có lịch sử hơn 500 năm tuổi, từng là dòng tranh Tết phổ biến khắp miền Bắc. Khác với tranh Hàng Trống hay Kim Hoàng, tranh Đông Hồ sử dụng hoàn toàn màu tự nhiên: đen từ than lá tre, đỏ từ sỏi son, vàng từ hoa hòe, xanh từ lá chàm. Giấy dó được quét điệp, tạo độ óng ánh đặc trưng. Mỗi bức tranh là kết quả của nhiều bản khắc, in từng lớp màu theo thứ tự chính xác. Nghệ nhân đặt tờ giấy lên ván, miết đều tay, nhấc lên, phơi khô rồi tiếp tục in lớp khác. Quy trình ấy lặp lại nhiều lần cho đến khi bức tranh hoàn chỉnh.

bn3.jpg
Hoa hậu Hà Trúc Linh và người đẹp Phạm Thùy Dương thích thú với trải nghiệm làm tranh Đông Hồ. Ảnh: Hồ Như Ý

Hoa hậu Việt Nam 2024 Hà Trúc Linh chia sẻ cảm giác thích thú khi được trực tiếp thực hành tranh Đông Hồ. “Tôi từng nhìn thấy tranh Đông Hồ trong sách giáo khoa, trên lịch Tết, nhưng chỉ khi tự tay đặt tờ giấy dó lên ván khắc, miết từng lớp màu, tôi mới hiểu hết sự tỉ mỉ của người nghệ nhân. Mỗi bản in đều cần sự chính xác và kiên nhẫn. Tôi thấy mình không chỉ đang làm một bức tranh, mà đang chạm vào một phần ký ức văn hóa của làng quê Việt”, Hà Trúc Linh nói.

Trong bối cảnh đô thị hóa, số hộ làm tranh không còn đông như trước. Phải biết rằng, vào thời kỳ cực thịnh trước năm 1944, tại Đông Hồ có 17 dòng họ cùng tham gia sản xuất tranh. Hiện chỉ còn ba dòng họ giữ được nghề của cha ông, đồng thời điều chỉnh sản phẩm cho phù hợp với thị trường du lịch: tranh khổ nhỏ, sổ tay, bưu thiếp, tranh in thử cho khách trải nghiệm.

Vào năm 2025, UNESCO đã đưa nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại.

Sinh động tour di sản

Đền Bà Chúa Then nằm nép mình ở xã Kép. Nơi đây gắn với Lễ hội Mở cửa rừng, vốn thuộc không gian tín ngưỡng Tày, Nùng. Then có nghĩa là thiên, người Tày quan niệm chúa Then là đại diện cho thần tiên, cầu nối tâm linh. Thông qua Chúa Then, người dân có thể thỉnh cầu trời cao ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no.

Ngược theo chiều dài lịch sử, xã Kép khi xưa là một vùng rừng núi rộng lớn, là cửa rừng quan trọng để đi lên phía Bắc. Theo đường thiên lý Đông quan, đây là mảnh đất phên dậu của Tổ quốc, vùng cửa ngõ quan trọng giao thông với phương Bắc. Khi giang sơn thu về một mối, vua Lê lên ngôi đã mở hội mừng công, ghi nhận vai trò của các vị tướng hình thành nét văn hóa tín ngưỡng trong nhân dân địa phương, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số về việc thờ các vị thần linh nơi cửa rừng.

Theo thủ nhang Bùi Quang Lưu, đền Bà Chúa Then được xây dựng dưới thời nhà Hậu Lê, khi đó chỉ là miếu nhỏ, có một lư hương cổ. Trong đền thờ Tứ Phủ Công đồng và Bà chúa Then. Vào năm 2016, đền được trùng tu tráng lệ, bề thế như hiện nay. Đền được xây dựng theo lối kiến trúc cổ truyền của người Việt, với nhiều khu nhà thờ khác nhau. Điểm đặc sắc ở đây là sự kết tụ những tinh hoa trong kiến trúc mỹ thuật cổ truyền của cả người miền xuôi và văn hóa của đồng bào các dân tộc miền núi.

Mỗi năm, vào dịp mở cửa rừng thường là từ 10-12 tháng Giêng, đền trở thành điểm tụ hội đông đảo của người dân trong vùng và du khách xa gần.

Xế chiều, hành trình của chúng tôi chạm đến Lăng Kinh Dương Vương. Di tích được xếp hạng cấp quốc gia, tọa lạc trên gò đất cao, mặt hướng ra sông Đuống. Theo truyền thuyết, Kinh Dương Vương là thủy tổ của người Việt, lập quốc Xích Quỷ khoảng năm 2879 trước CN, cha của Lạc Long Quân. Tính xác thực lịch sử của nhân vật vẫn là chủ đề nghiên cứu, nhưng trong tâm thức dân gian, đây là điểm tựa biểu tượng về nguồn gốc.

Khu lăng xây bằng đá xanh, mái chồng diêm hai tầng tám mái đao cong. Bên trong có bia đá dựng năm Minh Mệnh thứ 21, khắc bốn chữ “Kinh Dương Vương Lăng”. So với sự đông đúc của Hội Lim, Kinh Dương Vương giống như một quãng nghỉ tĩnh lặng, khiến vẻ đẹp tráng lệ của buổi chiều tà cũng dường như trở nên trầm mặc, an tĩnh hơn.

Cách không xa Kinh Dương Vương là Chùa Dâu, còn gọi là Diên Ứng Tự hay Pháp Vân Tự, hay Đệ nhất cổ tự trời Nam. Chùa được khởi dựng từ thế kỷ II, thời Sĩ Nhiếp, và được xem là trung tâm Phật giáo Luy Lâu, trung tâm Phật giáo sớm nhất trên đất Việt. Vào năm 2013, chùa đã được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt.

Bước qua tam quan, bố cục “nội công ngoại quốc” mở ra rõ ràng. Tháp Hòa Phong cao khoảng 17 m đứng giữa sân gạch, rêu phủ sẫm màu. Chính điện không chỉ thờ Phật mà còn thờ Pháp Vân, một trong Tứ Pháp, hệ thống thần linh gắn với tín ngưỡng nông nghiệp bản địa.

Điều đặc biệt nhất của chùa Dâu là ở đây lưu giữ nhiều Bảo vật Quốc gia quý giá, bao gồm hệ thống tượng Tứ Pháp (thờ thần Mây, Mưa, Sấm, Sét) và bộ Mộc bản chùa Dâu (được công nhận năm 2024). Nói riêng về bộ mộc bản, chùa Dâu hiện đang bảo lưu 107 ván mộc bản, trong đó có 92 ván được khắc 2 mặt và 15 ván khắc 1 mặt, tổng số là 199 mặt ván khắc, chia làm 13 bộ khác nhau gồm: Cổ Châu hạnh, Cổ châu lục, Cổ Châu nghi, Âm chất giải âm, Nhân quả quốc ngữ, Kỳ vũ kinh, Kỳ vũ hồng ân công văn, Thỉnh Long Vương nghi, Công đức, Mục Liên, Tam giáo, Phù chú và Tồn nghi (ván chưa xác định được tên gọi).

Mộc bản chùa Dâu được khắc vào thời Lê Trung Hưng và Tây Sơn kéo dài đến thời Nguyễn (từ 1752-1859), là nguồn di sản tư liệu phong phú giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu về sự ra đời của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp vùng Dâu, về sự ra đời và phát triển của Phật giáo Việt Nam, về các nghi thức cầu mưa cầu tạnh, lịch sử nghề khắc in mộc bản và nghệ thuật điêu khắc gỗ truyền thống của Việt Nam…