Ông Nguyễn Hoàng Anh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ - kết luận hội thảo:
Từ hội thảo hôm nay, điều cốt lõi là đã đánh giá thực trạng nguồn nước. Trên cơ sở đó, chúng ta biết được bản chất nguồn nước nằm ở đâu, tính chất hiện nay như thế nào. Tại hội thảo, các học giả, chuyên gia đã phân tích rất sâu nội dung này.
Chúng ta thấy được bức tranh chung nguồn nước vùng ĐBSCL hiện nay ở mức độ nào, đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến nguồn nước của khu vực hiện nay. Chúng ta cũng lắng nghe, tiếp nhận nhiều cấp độ thông tin khác nhau, từ lăng kính của nhà khoa học, nhà quản lý cho đến người nông dân. Câu chuyện còn lại là sự đồng thuận của cộng đồng, người dân để có thể tổ chức thực hiện tốt.
Điều quan trọng tiếp theo là các giải pháp để thực hiện. Qua hội thảo, chúng ta thấy được rất nhiều giải pháp, về cả nhân lực lẫn tài lực - hai giải pháp quan trọng nhất.
Trong giải pháp về nguồn nhân lực, làm gì cũng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền - giáo dục đối với người dân lẫn các tổ chức trên địa bàn khu vực ĐBSCL để có sự liên kết giữa các vùng với nhau. Chúng ta cần phải có sự liên kết giữa các tỉnh, thành trong khu vực thì mới quản lý được nguồn nước một cách bền vững. Trong đó có việc chúng ta sống thích ứng với tự nhiên, “sống chung với lũ”.
Cùng với đó là giải pháp về tài lực, gồm đầu tư các nhà máy của các doanh nghiệp để giải quyết vấn đề thiếu nguồn nước. Mặt khác, đầu tư cho nước ngầm, hạn chế khai thác nước ngầm, tăng cường khai thác nước mặt với việc sử dụng những thiết bị khoa học công nghệ, chẳng hạn như các máy lọc nước.
An ninh nguồn nước không chỉ là câu chuyện hôm nay, chúng ta còn định hướng cho tương lai gắn với hành động ra sao, thời gian nào nhằm đảm bảo tính bền vững.
Hội thảo hôm nay mang ý nghĩa hết sức quan trọng là cung cấp nguồn thông tin để chúng ta nắm được việc bảo vệ an ninh nguồn nước ở ĐBSCL đến thời điểm này đối với nhiều đối tượng khác nhau. Để từ đó chúng ta ứng phó và khai thác, sử dụng thật hợp lý, bền vững.
Đặc biệt, một nội dung quan trọng là khuyến nghị, kiến nghị các cấp các ngành hỗ trợ về tài chính. Trong đó, ưu tiên nguồn lực tài chính cho quản lý an ninh nguồn nước.
Từ sự phối hợp của TP. Cần Thơ với Báo Tiền Phong, thành phố cũng mong báo tiếp tục các hội thảo như thế này, trong đó hy vọng có thể tổ chức ở các tỉnh khác tại vùng ĐBSCL nhằm đánh giá thực trạng cụ thể và chuyên sâu hơn.
- Ông Nguyễn Hoàng Anh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ:
Để giải quyết những thách thức lớn như biến đổi khí hậu hay an ninh nguồn nước, sự phối hợp giữa khu vực công và khu vực tư nhân được xem là yếu tố rất quan trọng. Theo ông, Nhà nước và khối doanh nghiệp cần phối hợp như thế nào để cùng đóng góp hiệu quả hơn vào các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam?
- Ông Joseph Low - Chủ tịch Keppel Việt Nam:
Trong hành trình hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 của Việt Nam, Nhà nước và khu vực tư nhân đều giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thúc đẩy phát triển bền vững.
Trong đó, các cơ chế và chính sách khuyến khích từ phía Chính phủ có thể tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp mạnh dạn triển khai các giải pháp xanh.
Thực tế cho thấy tại Singapore, Cục Quản lý và Xây dựng (BCA) đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ tài chính dành cho các dự án đáp ứng tiêu chí công trình xanh. Nhờ những chính sách này, các doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn hỗ trợ để thực hiện cải tạo những dự án quy mô lớn một cách hiệu quả.
Từ kinh nghiệm đó, chúng ta hoàn toàn có thể cân nhắc áp dụng các cơ chế phù hợp với bối cảnh trong nước, chẳng hạn như ưu đãi trong quy hoạch, gia tăng chỉ tiêu xây dựng hoặc kéo dài thời hạn sử dụng đất đối với các dự án áp dụng công nghệ và giải pháp bền vững.
Những chính sách này sẽ tạo động lực để các chủ đầu tư chủ động hơn trong việc đầu tư vào các công trình thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, cần nhìn nhận rằng các giải pháp phát triển bền vững thường đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu cao hơn, dẫn đến giá thành sản phẩm cũng có thể cao hơn so với thông thường. Trong khi nhiều người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường, họ vẫn còn e ngại khi phải chi trả mức giá cao hơn.
Vì vậy, tôi tin rằng với vai trò dẫn dắt của Chính phủ, cùng sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và mỗi cá nhân trong xã hội, nhận thức và hành động vì phát triển bền vững sẽ từng bước được lan tỏa mạnh mẽ hơn.
Ông Hà Minh Luân - Phó trưởng Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Lúa ĐBSCL:
Hạn hán và xâm nhập mặn không còn là hiện tượng đơn lẻ mà đã trở thành xu thế mang tính thường xuyên, đặc biệt tại ĐBSCL. Tác động tổng hợp của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thay đổi dòng chảy thượng nguồn, hạn mặn xuất hiện với tần suất và cường độ ngày càng gia tăng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất lúa mà còn tác động sâu rộng đến toàn bộ hệ thống nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản).
Hạn mặn đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng thích nghi. Nhiều vùng đã giảm diện tích, chuyển sang các cây trồng có khả năng chịu hạn, chịu mặn tốt hơn. Xu hướng chuyển từ thủy sản nước ngọt sang nước lợ, nước mặn ngày càng phổ biến. Với chăn nuôi, hạn mặn làm thay đổi nguồn thức ăn và nước uống, buộc người dân phải điều chỉnh. Nhìn chung, cơ cấu sản xuất đang chuyển từ “đơn ngành” sang đa dạng hóa và thích nghi sinh thái.
Bên cạnh những chuyển đổi tích cực, hạn mặn cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực trên diện rộng. Trong trồng trọt, năng suất và sản lượng giảm.
Trong thủy sản, biến động độ mặn và chất lượng nước làm tăng rủi ro dịch bệnh.
Với chăn nuôi, tình trạng thiếu nước ngọt và nguồn thức ăn xanh làm gia tăng chi phí và giảm hiệu quả sản xuất.
Hạn mặn còn dẫn đến suy thoái đất, nhiễm mặn kéo dài, ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của hệ sinh thái nông nghiệp.
Một vấn đề quan trọng khác là rủi ro sinh kế, khi nhiều hộ nông dân, đặc biệt là hộ nhỏ lẻ, gặp khó khăn trong việc chuyển đổi mô hình sản xuất do hạn chế về vốn, kỹ thuật và thông tin.
Khả năng thích ứng của ngành nông nghiệp và người dân đã có những bước tiến rõ rệt. Nông dân chủ động điều chỉnh lịch thời vụ, lựa chọn giống cây trồng phù hợp, nhiều mô hình nuôi thích ứng… Tuy nhiên, khả năng thích ứng hiện nay vẫn chưa đồng đều giữa các vùng và các nhóm đối tượng sản xuất.
Thời gian tới cần có cách tiếp cận tổng thể và dài hạn hơn, tập trung vào quy hoạch lại sản xuất theo vùng sinh thái, phát triển giống và đối tượng nuôi thích nghi, nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước, đặc biệt là tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ…
PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam:
Hiện nay, đối với sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL, nhu cầu về an ninh lương thực là điều quan trọng. Bởi việc này liên quan đến tài nguyên đất, nước và ánh sáng rất lớn so với các vùng khác. Do vậy, vùng này được ưu tiên là vùng an ninh lương thực cho cả nước. Đồng thời cơ hội xuất khẩu lúa gạo của vùng cũng là số một cả nước.
Sản xuất lúa gạo đang là sinh kế chính của người dân nơi đây. Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo đang là xuất khẩu tài nguyên với giá khá thấp, nhưng đây là chuyện bất khả kháng trong giai đoạn quá độ chuyển đổi mô hình sản xuất hiện nay.
Trên thực tế, các chính sách chúng ta không ưu tiên cho sản xuất lúa gạo mà đang dần đề cao đối tượng khác có hiệu quả hơn như thủy sản, trái cây. Dù vậy, việc chuyển đổi đang phụ thuộc nhiều vào thị trường chứ không phải nơi sản xuất như hiện nay. Hiện nay, việc chuyển đổi theo xu hướng ưu tiên thủy sản, trái cây đang thành công và chắc chắn có nhiều chuyển biến trong thời gian tới.
Mặt khác, vai trò của hợp tác quốc tế đối với ĐBSCL hiện là nhu cầu không thể thiếu, là trụ cột đối với khu vực, bởi khu vực là hạ nguồn, chịu nhiều tác động từ vùng thượng lưu. Trong bối cảnh đó, hoạt động của Ủy ban Sông Mê Kông từng bước được cải thiện.
Ông Nguyễn Văn Bền - Phó Giám đốc Sở Tài chính TP. Cần Thơ:
Địa phương đã hoàn thiện điều chỉnh quy hoạch và đang triển khai thực hiện, trong đó trọng tâm là huy động nguồn lực đầu tư hệ thống cấp nước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân giai đoạn 2026-2030.
Theo kế hoạch, thành phố dự kiến bố trí khoảng 6.500 tỷ đồng vốn đầu tư công trung hạn để triển khai các dự án hạ tầng nước sạch, góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước.
Trong lĩnh vực cấp nước nông thôn, TP. Cần Thơ ưu tiên mở rộng các trung tâm nước sạch, đồng thời ứng dụng các trạm cấp nước hiện đại. Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống xử lý nước mặt phục vụ khu vực đô thị.
Tôi đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường quan tâm Dự án WB11 do Ngân hàng Thế giới tài trợ, nhằm tăng cường an ninh nguồn nước cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, TP. Cần Thơ dự kiến được phân bổ khoảng 2.500 tỷ đồng để triển khai các hạng mục liên quan trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, thành phố cũng chú trọng thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp nhà nước và khu vực tư nhân trong xử lý và phân phối nước thô. Mục tiêu là thống nhất quy trình khai thác, trao đổi và cung cấp nước, đặc biệt tại những khu vực còn khó khăn về nguồn nước
Về giải pháp lâu dài, TP. Cần Thơ sẽ tận dụng các hồ chứa hiện có, đồng thời nghiên cứu xây dựng thêm các hồ chứa nước nhằm tăng khả năng dự trữ, đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt trong mùa khô và các tình huống bất lợi.
Ông Phạm Văn Mười - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau:
Địa phương có ba mặt giáp biển nên nguồn nước mặn dồi dào, trong khi nước ngọt lại rất hạn chế, đặc biệt phục vụ sinh hoạt của người dân.
Hiện nay, nguồn cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh chủ yếu dựa vào nước ngầm. Mặt khác, hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng phụ thuộc nhiều vào nước mưa và nước dưới đất. Việc khai thác nước ngầm quá mức đã và đang gây ra nhiều hệ lụy như sụt lún đất, sạt lở bờ biển, bờ sông.
Trước thực trạng này, tỉnh Cà Mau đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước trong thời gian tới.
Thứ nhất, nghiên cứu phát huy lợi thế nguồn nước mặn dồi dào, đặc biệt là ứng dụng công nghệ xử lý nước mặn thành nước ngọt phục vụ sinh hoạt.
Thứ hai, đầu tư xây dựng các hồ chứa nước, trong đó có hồ chứa nước ngọt Khánh An - công trình được xác định là công trình trọng điểm của tỉnh có vai trò quan trọng trong trữ nước.
Thứ ba, nghiên cứu, đẩy nhanh phương án dẫn nước thô từ sông Hậu về Cà Mau nhằm bổ sung nguồn nước ngọt ổn định, lâu dài.
Thứ tư, tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện hệ thống cấp nước, bao gồm mạng lưới đường ống, bể chứa và tăng cường kết nối liên vùng để nâng cao hiệu quả cấp nước cho người dân.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng sẽ rà soát, điều chỉnh quy hoạch các trạm cấp nước tập trung, từng bước giảm khai thác nước ngầm, chuyển sang sử dụng nguồn nước mặt theo lộ trình phù hợp, đảm bảo tính bền vững.
Ông Vũ Viết Hưng - Phó cục trưởng Cục Quản lý và xây dựng công trình thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường:
Hệ thống các giải pháp nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long được xây dựng dựa trên triết lý chủ đạo là thích ứng có kiểm soát, phương châm xuyên suốt để bảo vệ cả hoạt động sản xuất lẫn đời sống sinh hoạt của người dân trước các điều kiện cực đoan.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành nông nghiệp xác định việc tiếp tục nghiên cứu, rà soát và đề xuất các dự án đầu tư hạ tầng mang tính chiến lược là vô cùng cấp thiết. Những công trình này không chỉ dừng lại ở quy mô địa phương mà phải vươn tầm liên vùng, liên tỉnh và liên lưu vực, nhằm giải quyết triệt để các "điểm nóng" về nguồn nước đã tồn tại từ lâu.
Điểm mới trong cách tiếp cận hiện nay là sự chú trọng vào việc nâng cấp các hệ thống thủy lợi sẵn có để chúng có thể vận hành linh hoạt và phục vụ đa mục tiêu, thay vì chỉ đơn thuần là tiêu thoát nước như trước đây.
Vấn đề tồn tại lớn trong thời gian qua là sự thiếu đồng bộ giữa các công trình đầu mối lớn do Bộ đầu tư và hệ thống kênh mương nội đồng của các địa phương. Để khắc phục, các giải pháp sắp tới sẽ tập trung vào việc tạo ra những đường kết nối liên hoàn giữa các hệ thống, cho phép dẫn nước, tích trữ và điều tiết nước một cách nhịp nhàng từ công trình chính đến tận ruộng đồng.
Bên cạnh giải pháp công trình, các biện pháp phi công trình được xem là "chìa khóa" để giảm thiểu thiệt hại một cách chủ động và ít tốn kém hơn. Trọng tâm là việc nâng cao năng lực dự báo trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn, mà thực tế đã chứng minh qua đợt hạn mặn năm 2019.
Nhờ công tác dự báo sớm trước 3 tháng, các địa phương đã có đủ thời gian để thay đổi khung thời vụ và hướng dẫn người dân chủ động tích trữ nước, giúp giảm thiệt hại đáng kể so với đợt hạn mặn năm 2015 dù tính chất khốc liệt là tương đương. Đồng thời, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý vận hành đang được đẩy mạnh thông qua việc cải tiến quy trình công tác, thiết lập hệ thống quan trắc tự động cả về lưu lượng lẫn chất lượng nước để đưa ra các quyết định đóng mở cống chính xác theo thời gian thực.
Sự thay đổi về hạ tầng và công nghệ phải đi đôi với sự chuyển đổi mạnh mẽ trong tư duy quản lý, đó là từ "tư duy sản xuất nông nghiệp" thuần túy sang "tư duy kinh tế nông nghiệp".
Cách tiếp cận này đòi hỏi việc quản lý nguồn nước phải gắn chặt với cơ cấu sản xuất và đặc thù của từng tiểu vùng sinh thái. Các địa phương cần dựa trên các kịch bản dự báo để chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất, cây trồng và vật nuôi cho phù hợp với khả năng đáp ứng của nguồn nước thay vì cố gắng chống lại quy luật tự nhiên. Đây là bước đi chiến lược nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, biến thách thức từ xâm nhập mặn và hạn hán thành cơ hội để tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng chất lượng và hiệu quả hơn.
Trên thực tế, các mô hình công trình hiệu quả đã được khẳng định qua các dự án như hệ thống Cái Lớn - Cái Bé hay công trình Nguyễn Tất Thành tại Kiên Giang, nơi người dân và chính quyền địa phương đánh giá rất cao khả năng kiểm soát nguồn nước và ứng phó với thiên tai cực đoan.
Trong lộ trình tới, khu vực Cà Mau tiếp tục được đầu tư các dự án kiểm soát nước và nghiên cứu các công trình chuyển nước để bảo vệ vùng lõi. Tại các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, các dự án sử dụng vốn vay từ Chính phủ Nhật Bản (JICA) được triển khai cùng với việc nghiên cứu xây dựng các kênh chuyển nước liên tỉnh. Tất cả nỗ lực nhằm hướng tới một hệ thống thủy lợi hoàn thiện, có khả năng khai thác tổng hợp nguồn nước cho cả sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh tế xã hội toàn diện cho Đồng bằng sông Cửu Long.
Ông Lều Mạnh Huy - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư ngành nước DNP (DNP Water):
Công ty DNP Water thuộc Tập đoàn Tasco, là đơn vị tư nhân hàng đầu cả nước trong lĩnh vực đầu tư ngành nước, với quy mô tổng tài sản gần 10.000 tỷ đồng, hoạt động trên 11 tỉnh thành, sở hữu hệ thống nhà máy với công suất thiết kế trên một triệu m3/ngày đêm.
Đơn vị đang sở hữu, vận hành khai thác nhà máy xử lý nước sạch có công suất phát nước thực tế lớn nhất vùng hiện nay là Nhà máy nước Đồng Tâm tại xã Kim Sơn, tỉnh Đồng Tháp. Sản lượng phát nước bình quân đạt xấp xỉ 70.000 m3/ngày đêm, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu sinh hoạt của người dân khu vực phía Đông tỉnh Đồng Tháp (Tiền Giang cũ).
DNP Water đang triển khai Dự án Trạm bơm nước thô Cái Bè và hệ thống tuyến ống truyền tải (Dự án nước thô liên vùng tỉnh khu vực sông Tiền), nhằm khai thác và truyền dẫn nguồn nước thô từ thượng nguồn sông Tiền để thay thế nguồn nước bị nhiễm mặn cho các nhà máy xử lý nước sạch tại hạ nguồn 3 tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre cũ. Dự án khởi công quý IV/2025, dự kiến hoàn thành đi vào hoạt động quý IV/2026, đảm bảo nguồn nước an toàn, bền vững, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất cho khoảng 2 triệu người dân khu vực ven biển.
Tháng 12/2025, DNP Water cũng gửi đề xuất dự án Trạm bơm nước thô vùng Tây Nam sông Hậu và hệ thống tuyến ống truyền tải” (Dự án nước thô vùng Tây Nam sông Hậu) đến UBND TP Cần Thơ và tỉnh Cà Mau. Mục tiêu là xây dựng hệ thống khai thác và truyền dẫn nguồn nước thô từ thượng nguồn sông Hậu, đảm bảo nhu cầu nước sạch sinh hoạt, khắc phục tình trạng nước nhiễm mặn; thay thế nguồn nước ngầm đang suy giảm trầm trọng do khai thác quá mức, góp phần hạn chế sụt lún. Đây là vấn đề cực kỳ khẩn cấp cần giải quyết, không thể chờ đợi và chậm thêm nữa.
Về giải pháp an toàn nước, giải pháp khai thác và truyền dẫn nước thô ưu việt hơn rất nhiều so với việc đặt các nhà máy xử lý khai thác nguồn nước tại chỗ trên thượng nguồn sông Tiền và sông Hậu. Với khoảng cách từ điểm khai thác nước đến điểm tiếp nhận tại các nhà máy nước phía hạ nguồn lên đến hàng trăm km, thời gian để nước đi lên đến 8-10 giờ. Trường hợp phát hiện sự cố mất an toàn nguồn nước, sẽ có đủ thời gian để đóng van chặn tuyến, súc xả đường ống, không cho nguồn nước mất an toàn đưa vào nhà máy sản xuất nước sạch cung cấp nước cho người dân.
Dự án kỳ vọng đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho người dân khu vực ven biển thuộc bán đảo Cà Mau hiện tại và tương lai, tiến tới việc thay thế toàn bộ việc khai thác nước ngầm. Đây cũng là giải pháp tầm nhìn dài hạn đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho toàn vùng Tây Nam sông Hậu trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các diễn biến cực đoan của tình trạng xâm nhập mặn.
Câu chuyện hạn mặn, thiếu nước cần được nhắc đến nhiều. Rất cần có sự kết hợp giữa chính quyền địa phương, các sở ban ngành, chuyên gia, nhà khoa học, các đơn vị truyền thông báo chí để cùng truyền tải được thông tin đến người dân, đến các bộ, ngành, Chính phủ để việc hiện thực hoá những dự án quy mô vùng liên tỉnh, những dự án mang nhiều ý nghĩa xã hội và thiết thực được triển khai nhanh và khả thi…
Ông Nguyễn Thế Lâm - Phó Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ:
Với vị trí nằm ở trung tâm ĐBSCL và diện tích tự nhiên mở rộng lên tới 6.360,83 km², TP. Cần Thơ đóng vai trò là đầu mối giao thông và giao thương chiến lược. Hệ thống sông ngòi chằng chịt với các trục chính như sông Hậu, sông Cần Thơ, và các kênh lớn tạo điều kiện tuyệt vời cho giao thông thủy nội địa và kết nối giao thương quốc tế.
Đặc biệt, việc mở rộng địa giới hành chính giúp thành phố có 72 km đường bờ biển, mở ra cửa ngõ trực tiếp ra biển Đông, tạo “không gian phát triển” cực kỳ thuận lợi cho sự phát triển của thành phố trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực cung cấp nước sạch sinh hoạt phục vụ nhân dân không còn bị giới hạn địa giới hành chính.
TP. Cần Thơ với vị thế là siêu đô thị động lực của ĐBSCL, sở hữu một cấu trúc địa lý thủy văn vô cùng đặc biệt và đa dạng. Đặc điểm này tạo nên một hệ thống mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt với mật độ cao, đóng vai trò là mạch máu lưu thông nguồn nước, phù sa và giao thông thủy, cấp nước sinh hoạt vô cùng thuận lợi.
Kể từ sau khi sáp nhập, công tác quản lý tài nguyên nước của thành phố đã có những bước tiến vượt bậc nhờ xóa bỏ được sự chia cắt cục bộ giữa các địa phương cũ.
Thành phố đã quy hoạch tài nguyên nước thống nhất, trong đó phân vùng chức năng rõ ràng: Vùng bảo vệ nghiêm ngặt nguồn nước ngọt, Vùng hạn chế khai thác nước dưới đất và Vùng thích ứng sinh thái mặn - lợ.
Giải pháp cấp nước sinh hoạt an toàn cho người dân trước thách thức của biến đổi khí hậu đối với khu vực nông thôn
Quyết định số 3639 ngày 31/12/2025 của UBND TP. Cần Thơ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch TP. Cần Thơ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đưa ra định hướng chiến lược: Quản lý nước thông minh và thích ứng, để đảm bảo sự phát triển bền vững, TP. Cần Thơ đang triển khai chiến lược quản lý tài nguyên nước theo hướng “thuận thiên" và tích hợp đa mục tiêu.
Trong đó, xây dựng các hồ chứa nước ngọt quy mô lớn tại các vùng trũng thấp và hệ thống trữ nước phân tán trong dân để đảm bảo nguồn cấp nước sinh hoạt trong các tháng mùa khô hạn.
Thực hiện lộ trình giảm dần và tiến tới ngưng hoàn toàn việc khai thác nước dưới đất tại các khu vực đô thị và khu vực có nguy cơ sụt lún, sạt lở cao; thay thế bằng hệ thống cấp nước mặt liên vùng.
Thiết lập mạng lưới quan trắc tự động (độ mặn, mực nước, chất lượng nước) phủ kín toàn thành phố, kết nối về trung tâm điều hành thông minh để đưa ra các dự báo và quyết định quản lý vận hành hệ thống cấp nước kịp thời, chính xác.
Xác định biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng là xu thế tất yếu phải sống chung và thích nghi; chủ động khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nước ngọt, nước lợ, nước mặn, bảo đảm an ninh nguồn nước…
Theo nội dung được chia sẻ tại hội thảo, dòng chảy từ thượng nguồn sông Mekong suy giảm, cùng với triều cường gia tăng và xâm nhập mặn lấn sâu tới 70-85 km đã khiến nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm. Không chỉ hệ sinh thái bị ảnh hưởng, đời sống người dân cũng chịu tác động trực tiếp.
Những hình ảnh ghi nhận tại địa phương cho thấy đất đai nứt nẻ, thủy sản chết hàng loạt, trong khi người dân phải chắt chiu từng can nước, đi xa để tìm nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt hằng ngày. Đây là những biểu hiện rõ nét của “bài toán an ninh nguồn nước” đang đặt ra cấp thiết với toàn vùng.
Trong bối cảnh đó, việc đảm bảo nguồn nước bền vững, tăng cường trữ nước ngọt và thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ là giải pháp lâu dài, mà còn là yêu cầu cấp bách đối với Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.
PGS.TS Đào Duy Huân - Phó Hiệu trưởng Đại học Nam Cần Thơ:
Gia tăng sạt lở bờ sông, bờ biển, đặc biệt là ở An Giang, Đồng Tháp… đất nông nghiệp bị suy giảm thấy rất rõ. Khi có các biện pháp thì có giảm nhưng nhìn chung là giảm hẳn diện tích. Đây không còn là câu chuyện dự báo nữa mà là thực tế đang diễn ra từng ngày. Cùng với đó, “hệ sinh thái nước ngọt và nước lợ bị biến đổi, cái này thấy rất rõ, nghĩa là nền tảng tự nhiên của vùng đang thay đổi một cách căn bản.
Về môi trường sinh thái, chúng ta đang chứng kiến một sự tổn thương rất lớn. Bản thân tôi nhiều năm đi thực tế ở U Minh. Những gì trước đây là rừng, hệ sinh thái ngập nước rộng lớn thì nay đã thu hẹp đi đáng kể, kéo theo đó là sự suy giảm đa dạng sinh học. Ngày xưa, những năm 1970, tôi thấy cá tôm ngay trong vườn nhà dân, bây giờ gần như không còn nữa. Tôi cho rằng đây là một dấu hiệu cực kỳ nguy hiểm, bởi khi hệ sinh thái đã mất đi thì rất khó phục hồi.
Một vấn đề nữa là sụt lún đất, mà nguyên nhân chính là do khai thác nước ngầm. Có nhiều thông tin cho rằng sụt lún từ 1-2 cm mỗi năm, thậm chí có nơi 3cm, tôi cho là đúng, thậm chí có thể cao hơn. Điều đáng nói là chúng ta không chỉ khai thác quá mức mà còn sử dụng rất lãng phí. Nếu chúng ta không thay đổi cách sử dụng thì tài nguyên này sẽ nhanh chóng cạn kiệt.
Từ những thực trạng đó, tôi xin nêu một số kịch bản. Kịch bản thứ nhất, có thể coi là trung bình. Đồng bằng của chúng ta phụ thuộc rất lớn vào nguồn nước từ bên ngoài, nguồn nước nội tại chỉ khoảng 9-11%, còn lại gần như phụ thuộc bên ngoài. Vì vậy, nếu không có sự phối hợp quốc tế thì chúng ta rất bị động.
Kịch bản thứ hai khó khăn hơn. Khi đó, chúng ta buộc phải thay đổi cách sản xuất. Không thể giữ cách làm cũ, phải chuyển sang thủy sản, vùng nào phù hợp thì làm. Và phải chấp nhận một thực tế là mặn sẽ trở thành bình thường, không còn là bất thường nữa. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải có sự điều phối chung cho toàn vùng, không thể mỗi tỉnh làm một kiểu.
Kịch bản thứ ba là kịch bản xấu nhất. Tôi nghĩ rằng không để xảy ra được, phải kiểm soát ngay từ bây giờ. Nếu chúng ta không hành động thì hệ quả sẽ rất lớn, không chỉ về môi trường mà còn về xã hội.
Thực tế hiện nay đã cho thấy một xu hướng rất đáng lo ngại, đó là người dân rời bỏ đồng bằng. Người dân di cư lên Đông Nam Bộ rất nhiều vì sinh kế khó khăn. Nếu không có giải pháp căn cơ để đảm bảo sinh kế thì xu hướng này, sẽ còn tiếp tục và ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của vùng.
PGS.TS Lê Anh Tuấn - Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường, Trường Đại học Cần Thơ, Cố vấn Khoa học của Viện Mekong:
An ninh nguồn nước tại ĐBSCL hiện đang đối mặt với ít nhất 7 thách thức lớn, gồm 3 yếu tố bên ngoài và 4 vấn đề nội tại.
Ba thách thức từ bên ngoài bao gồm tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, sự phát triển các công trình thủy điện ở thượng nguồn làm suy giảm lượng phù sa, bùn cát và nguy cơ nguồn nước mùa khô bị chuyển hướng, điển hình là dự án kênh đào Funan Techo (Campuchia), có thể ảnh hưởng đáng kể đến dòng chảy về ĐBSCL.
Trong khi đó, các vấn đề nội tại cũng đang gây áp lực lớn. Trước hết là tình trạng khai thác nước ngầm quá mức phục vụ sản xuất. Kế đến là ô nhiễm nguồn nước do lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Ngoài ra, hiệu quả sử dụng nước còn rất thấp. Theo Ngân hàng Thế giới, mỗi mét khối nước tại Việt Nam chỉ tạo ra giá trị khoảng 2,37 USD, trong khi mức trung bình toàn cầu là 19,12 USD.
Nguyên nhân chính là việc sử dụng nước quá lớn cho sản xuất lúa. Để sản xuất 1 tấn lúa cần tới 4.000-5.000 m³ nước, đồng nghĩa với việc “xuất khẩu nước” thông qua hạt gạo, trong khi giá trị kinh tế lại thấp, khiến thu nhập nông dân không được cải thiện. Cuối cùng, việc thay đổi mục đích sử dụng đất cũng đang tác động tiêu cực đến nguồn nước trong vùng.
Trước thực trạng trên, nhiều ý kiến cho rằng ĐBSCL cần sớm điều chỉnh chiến lược sử dụng nước theo hướng bền vững hơn. Một trong những vấn đề được đặt ra là có nên tiếp tục duy trì sản xuất lúa 3 vụ và hệ thống đê bao khép kín tại các vùng như Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười. Việc kiểm soát lũ quá mức khiến khả năng trữ nước tự nhiên suy giảm, đồng thời làm gia tăng nguy cơ ngập úng tại đô thị.
Liên quan đến giải pháp trữ nước, cần tránh xu hướng đào ao hồ quá sâu. Thực tế cho thấy các ao sâu trên 3 m có thể làm phát sinh phèn và gây hiện tượng hút nước từ khu vực xung quanh, làm gia tăng thiếu nước cục bộ trong mùa khô.
- Ông Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong: Người dân đã bị tác động thế nào bởi tình trạng cạn kiệt nguồn nước, hạn mặn và phải thích ứng bằng những cách nào?
- Ông Lý Văn Bon - Phó Giám đốc Hợp tác xã Du lịch Nông nghiệp Cồn Sơn, TP. Cần Thơ:
Cách đây khoảng 25-30 năm, dòng sông Hậu khi chảy qua Cần Thơ mang theo lượng phù sa dồi dào. Vào mùa nước nổi, đặc biệt từ khoảng tháng 7 trở đi, nước có màu đỏ đậm, thường được người dân gọi là “nước son”, lượng phù sa rất lớn đổ về ĐBSCL. Nguồn phù sa này không chỉ bồi đắp đất đai mà còn mang theo nguồn lợi thủy sản tự nhiên phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho cả nuôi trồng lẫn đánh bắt.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình trạng xây dựng đập ở thượng nguồn cùng với tác động của biến đổi khí hậu đã làm thay đổi đáng kể dòng chảy và nguồn nước. Lượng phù sa giảm mạnh, kéo theo nhiều hệ lụy. Đối với những người nuôi cá bè, nguồn cá tự nhiên gần như không còn xuất hiện như trước. Trước đây, trong dòng nước còn nhiều sinh vật tự nhiên, cá nuôi có thêm nguồn thức ăn bổ sung, giúp giảm chi phí. Nay dòng sông không còn nguồn lợi tự nhiên, khiến chi phí nuôi tăng lên đáng kể.
Trước kia thời gian nuôi cá chỉ khoảng 6 tháng là có thể thu hoạch, với giá thành khoảng 40.000 đồng/kg. Hiện nay, chi phí nuôi đã tăng lên mức 60.000-70.000 đồng/kg do phải phụ thuộc hoàn toàn vào thức ăn công nghiệp và các chi phí phát sinh khác. Bên cạnh đó, tình trạng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động nuôi cá. Nước mặn xâm nhập sâu làm thay đổi môi trường sống, khiến nhiều loại cá nước ngọt khó thích nghi, thậm chí bị chết nếu không kịp thời xử lý.
Không chỉ ảnh hưởng đến con giống, xâm nhập mặn còn tác động đến cơ sở vật chất phục vụ nuôi trồng. Trước đây, bè nuôi có thể sử dụng khoảng 5 năm mà không hư hỏng đáng kể, nhưng hiện nay chỉ sau khoảng 3 năm đã xuống cấp do nước mặn gây ăn mòn, làm mục vật liệu, kéo theo chi phí sửa chữa, thay thế tăng cao.
Người dân trồng cây ăn trái hoặc canh tác lúa đều chịu ảnh hưởng từ việc suy giảm phù sa. Đất đai không còn được bồi đắp tự nhiên như trước, buộc người dân phải tăng cường sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật để duy trì năng suất. Điều này không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước khi các hóa chất này bị rửa trôi ra sông.
Trước kia mỗi mùa lũ, phù sa có thể bồi đắp đất ruộng lên đáng kể, nhưng hiện nay không những không bồi mà còn có xu hướng xói lở, làm suy giảm chất lượng đất. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng, đặc biệt là lúa, khiến người nông dân gặp nhiều khó khăn hơn trong sản xuất.
Trước thực trạng đó, nông dân đã chủ động thích ứng bằng cách thay đổi đối tượng nuôi. Thay vì chỉ nuôi các loài cá nước ngọt, ông chuyển sang nuôi các loại cá có thể chịu được cả môi trường nước ngọt và nước lợ để giảm thiểu rủi ro khi xâm nhập mặn xảy ra. Đồng thời, trong sinh hoạt và sản xuất, người dân cũng phải theo dõi chặt chẽ nguồn nước, chỉ sử dụng khi đảm bảo độ an toàn, tránh lấy nước vào thời điểm độ mặn cao gây ảnh hưởng đến cây trồng và vật nuôi.
Về giải pháp lâu dài, cần có sự thay đổi trong cách canh tác nông nghiệp. Như tận dụng mùa nước nổi, đặc biệt vào khoảng tháng 7 để cho nước lũ mang phù sa tràn vào đồng ruộng, thay vì canh tác liên tục. Việc này giúp bổ sung dinh dưỡng tự nhiên cho đất, giảm nhu cầu sử dụng phân bón hóa học trong các vụ sau. Đồng thời, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng là cách để giảm ô nhiễm nguồn nước, bởi các hóa chất này cuối cùng đều chảy ra sông Hậu, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và nguồn nước chung.
Ông Văn Hữu Huệ - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Vĩnh Long:
Dù xâm nhập mặn được dự báo không gay gắt như các năm cực đoan 2015-2016 và 2019-2020, địa phương vẫn không chủ quan, luôn theo dõi sát diễn biến để kịp thời ứng phó. Trên cơ sở dự báo và tình hình thực tế, ngành nông nghiệp đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch phòng, chống, xây dựng các kịch bản ứng phó.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, việc đảm bảo nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt đang đối mặt nhiều thách thức. Tình trạng mặn xâm nhập sớm, lấn sâu vào nội đồng trong mùa khô ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Không ít khu vực phải phụ thuộc vào nguồn nước trữ tạm hoặc khai thác nước dưới đất để duy trì sản xuất và đời sống.
Đáng lưu ý, việc khai thác nước ngầm kéo dài tiềm ẩn nguy cơ sụt lún nền đất, ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng, gia tăng rủi ro ngập úng, sạt lở, tác động tiêu cực đến phát triển bền vững. Hệ thống thủy lợi và cấp nước được đầu tư nhưng còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trữ nước, điều tiết và cấp nước trong điều kiện hạn, mặn ngày càng gia tăng.
Trước tình hình này, tỉnh Vĩnh Long đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như vận hành hiệu quả các công trình thủy lợi để chủ động trữ nước ngọt; tăng cường nạo vét, nâng cấp hệ thống kênh mương, đẩy mạnh quan trắc, dự báo độ mặn, kịp thời khuyến cáo người dân. Đảm bảo cấp nước sinh hoạt, khuyến khích người dân trữ nước tại chỗ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ phù hợp với điều kiện nguồn nước.
Đồng thời, tăng cường tuyên truyền người dân chủ động trữ nước ngọt, sử dụng nước tiết kiệm. Các đơn vị cấp nước chủ động kiểm soát chất lượng nguồn nước, đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt. Tập huấn kỹ thuật sản xuất thích ứng và kiến nghị Trung ương hỗ trợ các công trình kiểm soát mặn, quản lý chặt khai thác nước ngầm để phát triển bền vững…
Để giải quyết thiếu nước, cần hỗ trợ chứa nước ngọt, nếu hạ mức nước ngầm có hệ lụy nhanh dẫn phèn, không sản xuất được. Nguyên nhân sụt lún do các tầng đất dưới bị khô nước, áp lực công trình trên đè xuống. Do vậy, cần bổ cập nước dưới đất bằng cách xây dựng hồ chứa nước lớn dưới đất để bổ cập nước, giải bài toàn sụt lún, đồng thời cung cấp nước...
Ông Joseph Low - Trưởng đại diện Keppel tại Việt Nam, Chủ tịch Keppel Việt Nam:
Phát triển bền vững chính là DNA của Keppel, theo đó công ty tập trung vào bảo vệ môi trường, kinh doanh có trách nhiệm và hỗ trợ con người và cộng đồng. Keppel luôn tin rằng giá trị bền vững sẽ mang lại hiệu quả không chỉ về kinh tế mà còn cho môi trường đồng thời tạo ra những giá trị gián tiếp bền vững và ý nghĩa.
ĐBSCL là một trong những khu vực chịu ảnh hương nặng nề bởi biến đổi khí hậu. Cứ 2 bát cơm thì có một bát được làm ra từ vùng đất này - cho thấy tầm quan trọng của khu vực này đối với cả nước.
Tuy nhiên, tình trạng xâm nhập mặn đang trở nên nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đời sống và sinh kế người dân tại đây. Những tác động, hệ quả của tác động này thì các chuyên gia Việt Nam cũng đã chia sẻ trước đó.
Trước bối cảnh đó, Keppel đã triển khai chương trình Living Well để cung cấp nước sạch cho người dân tại ĐBSCL. Đây không chỉ là những sự cố gắng về giải pháp kỹ thuật mà còn là một tầm nhìn dài hạn về sự phát triển bền vững. Chương trình đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ nhân viên của tập đoàn, tuy nhiên việc triển khai không đơn giản là mang các hệ thống lọc nước mà còn là kế hoạch dài hạn và những công việc thầm lặng phía sau và từ đó tạo ra nguồn nước sạch để người dân sử dụng.
Với sự đồng hành của Báo Tiền Phong, Keppel đã triển khai chương trình Living Well đầu tiên vào năm 2022.
Trong 5 năm qua, Keppel đã trao tặng 11 hệ thống máy lọc nước, với tổng lượng nước sạch mỗi năm khoảng 24 triệu lít và góp phần hỗ trợ cho 157.000 người dân tại ĐBSCL.
Rất nhiều người dân chia sẻ trước đây họ phải đi rất xa để mua nước sạch với giá không hề rẻ, tuy nhiên với sự đóng góp của dự án Living Well đã góp phần giải quyết nhu cầu thiết yếu cơ bản của người dân.
Bên cạnh hỗ trợ nguồn nước sạch, Keppel cũng quan tâm hoạt động giáo dục, chia sẻ kiến thức về biến đổi khí hậu, nước biển dâng, hướng đến bảo vệ môi trường. Keppel cũng triển khai chương trình Living Well triển khai tại các quốc gia khác như Ấn Độ.
Hội thảo hôm nay là nỗ lực nhằm thúc đẩy đối thoại về việc phát triển bền vững và khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Trong thời gian qua, Tập đoàn Keppel đã xây dựng nhà máy khử mặn Keppel Marina East - nhà máy đầu tiên có thể xử lý cả nước biển và nước ngọt và có khả năng cung cấp nước cho khoảng một triệu dân.
Keppel cũng phát triển các nhà máy tái chế nước nguồn nước thải thành nước sạch và an toàn, phát triển các dự án đốt rác phát điện tạo ra nguồn điện trực lượng lớn mỗi năm. Keppel cũng đang xây dựng nhà máy nhiệt điện Keppel Sakra. Ngoài ra, Keppel Bay Tower là tòa nhà thuơng mại đầu tien tại Sing đạt chuẩn Green Mark Platinum (phát thải ròng bằng 0). Sau quá trình nâng cấp, tòa nhà đã giảm hơn 30% mức tiêu thụ điện năng.
Keppel tin rằng việc giải quyết vấn đề khí hậu và nguồn nước cần có sự hành động thiết thực và sự chung tay của cả cộng đồng. Và chương trình Living Well và hội thảo hôm nay thể hiện cam kết lâu dài của Keppel với Việt Nam. Chúng tôi đã đồng hành tại đây 35 năm và sẽ tiếp tục hỗ trợ cộng đồng trong nhiều năm tới.
Ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ NN&MT:
Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định mục tiêu xuyên suốt là đảm bảo an ninh nguồn nước, trong đó có vùng ĐBSCL. Định hướng lớn là tối ưu hóa nguồn nước từ sông Mekong, đồng thời chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và biến động từ thượng nguồn.
Đối với nước mặt, đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho dân sinh và các ngành kinh tế. Giải pháp trọng tâm là khai thác hiệu quả nguồn nước từ sông Tiền, sông Hậu, sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, tăng cường trữ nước, giữ ngọt, đặc biệt tại các khu vực thường xuyên bị hạn mặn như ven biển, bán đảo Cà Mau. Việc xây dựng các hồ trữ nước quy mô phù hợp và hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi được đặt ra.
Đối với nước dưới đất, yêu cầu là khai thác hợp lý, không vượt ngưỡng giới hạn, kết hợp kiểm soát sụt lún, ưu tiên cấp nước sinh hoạt, hạn chế khai thác tràn lan cho sản xuất.
Trong quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long, các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 gồm 100% vị trí giám sát dòng chảy xuyên biên giới được giám sát tự động, trực tuyến, 100% nguồn nước liên tỉnh được công bố khả năng tiếp nhận nước thải, 100% công trình khai thác, xả thải được giám sát vận hành, 100% nước thải đô thị được xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường. Đồng thời, 50% nguồn nước thuộc đối tượng lập hành lang bảo vệ được cắm mốc theo quy định.
Cùng với đó, các kịch bản nguồn nước cho mùa cạn giai đoạn 2024-2025 và 2025-2026 đã được xây dựng, làm cơ sở điều hành khai thác, sử dụng nước ứng phó kịp thời với các thay đổi từ thượng nguồn, hạn hán, xâm nhập mặn. Đây được xem là công cụ quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo phát triển bền vững cho toàn vùng ĐBSCL trong bối cảnh mới.
Ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ NN&MT:
Luật Tài nguyên nước với 10 chương, 86 điều đã thể chế hóa các định hướng lớn về quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên nước, thông qua 4 nhóm chính sách gồm: Bảo đảm an ninh nguồn nước, xã hội hóa ngành nước, Kinh tế tài nguyên nước và Bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống tác hại do nước gây ra.
Nguyên tắc cốt lõi được xác định là tài nguyên nước phải được quản lý tổng hợp, trong đó bảo đảm an ninh nguồn nước cho sinh hoạt là ưu tiên hàng đầu. Việc phân bổ nguồn nước phải gắn với quy hoạch tổng thể, đảm bảo điều hòa, phân phối tài nguyên nước hợp lý giữa các ngành, vùng.
Một điểm nhấn quan trọng là chuyển đổi phương thức quản lý, chuyển dần từ quản lý bằng công cụ hành chính sang quản lý bằng công cụ kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và huy động nguồn lực xã hội. Đồng thời, định hướng hiện đại hóa được đặt ra với yêu cầu quản trị tài nguyên nước quốc gia trên nền tảng công nghệ số.
Hệ thống chính sách cũng quy định rõ các nội dung then chốt như duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông, kiểm soát ngưỡng khai thác nước dưới đất, phân vùng chức năng nguồn nước, cũng như các giải pháp phòng chống sạt lở, lũ lụt. Việc phục hồi các dòng sông, thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước và kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng nước được xác định là nền tảng cho phát triển bền vững.
Ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ NN&MT:
Nguồn nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc từ nước ngoài và phân bố không đều theo không gian và thời gian. Thực trạng này thể hiện rõ nét tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - lưu vực sông liên quốc gia. Tổng lượng nước trung bình năm của lưu vực sông Cửu Long khoảng 488 tỷ m³, trong đó nước mặt chiếm 97%, nước dưới đất chiếm 3%. Tuy nhiên, vào mùa khô, lượng nước bình quân đầu người chỉ khoảng 2.200 m³/người, cho thấy nguy cơ thiếu nước ngày càng hiện hữu.
Dòng chảy từ thượng nguồn về ĐBSCL có xu hướng suy giảm rõ rệt, giảm so với mức trung bình nhiều năm khoảng 13%, riêng mùa khô 2015-2016 giảm 36%, giai đoạn 20190-2020 giảm 28%. Trong khi đó, thủy triều có xu thế gia tăng, trung bình tăng khoảng 12 cm trong 25 năm, kéo theo triều cường tăng thêm 20-25 cm. Xâm nhập mặn vì thế có xu hướng đến sớm hơn và mạnh hơn, với ranh mặn 4‰ xâm nhập sâu 70-85 km trên sông Tiền, sông Hậu.
Áp lực từ phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng. Tổng lượng nước khai thác toàn vùng đạt khoảng 32,25 tỷ m³/năm, trong đó “nước cho nông nghiệp và thủy sản là 31,54 tỷ m³/năm”, còn sinh hoạt 0,57 tỷ m³/năm, công nghiệp 0,13 tỷ m³/năm. Song song, gia tăng hoạt động xả nước thải, nhất là nước thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn đang gây sức ép nghiêm trọng đến chất lượng nguồn nước.
ĐBSCL phụ thuộc mạnh vào nguồn nước từ sông Mekong, chiếm 95% tổng lượng nước của ĐBSCL. Trong khi đó, thượng nguồn đã hình thành và vận hành 12 công trình thủy điện, khu vực Lào, Campuchia có 11 dự án trên dòng chính, Thái Lan triển khai các dự án chuyển nước với quy mô khoảng 6,2 tỷ m³/năm, cùng với 6,5 tỷ m³/năm từ dòng chính và 2,5 tỷ m³/năm từ dòng nhánh.
Mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng nước gia tăng trở thành thách thức lớn. Chỉ số an ninh nguồn nước quốc gia hiện mới đạt 2/5, trong khi quản trị tài nguyên nước chưa dựa trên nền tảng công nghệ số và đầu tư còn hạn chế.
PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam:
Theo số liệu tại trạm Tân Châu giai đoạn 1990-2025 cho thấy xu thế lũ trên sông Mekong đang giảm rõ rệt. Từ sau năm 2012 đến nay, hầu như không còn xuất hiện lũ lớn vượt báo động 3, thay vào đó là chuỗi năm lũ nhỏ kéo dài. Nếu trước năm 2011, khoảng 4-5 năm lại có một trận lũ vừa hoặc lớn, thì hiện nay xu thế chủ đạo là lũ thấp, và trong 30-50 năm tới, khả năng xuất hiện lũ lớn sẽ rất hiếm, trong khi lũ nhỏ và rất thấp gia tăng.
Cùng với đó, xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến sớm và gay gắt hơn so với trước năm 2013. Mặn hiện xuất hiện từ giữa tháng 12 đến tháng 1, sớm hơn 1-1,5 tháng; đỉnh mặn cũng đến sớm hơn, rơi vào tháng 2-3 thay vì tháng 3-4 như trước đây. Đáng chú ý, dòng chảy mùa khô về đồng bằng có xu hướng tăng nhưng vẫn không đủ để ngăn chặn đà xâm nhập mặn ngày càng sâu.
Theo các kịch bản dự báo, ranh mặn tiếp tục lấn sâu vào nội đồng. Trên sông Tiền, độ mặn 4g/l có thể vào sâu khoảng 52 km (năm 2020), tăng lên 55,5 km vào năm 2030 và khoảng 62,5 km vào năm 2050. Bình quân, ranh mặn sẽ tăng thêm khoảng 3,3 km vào năm 2030 và 6,7 km vào năm 2050.
Trước thực trạng này, cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, coi nước mặn, nước lợ và nước ngọt đều là tài nguyên. Quản lý nước phải chuyển từ đơn lẻ theo công trình sang liên vùng, liên tỉnh, hướng đến quản trị hiện đại. Các giải pháp trọng tâm gồm nâng cao năng lực dự báo, vận hành liên thông hệ thống thủy lợi, tổ chức sản xuất linh hoạt theo điều kiện nguồn nước, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý.
Về công trình, cần tiếp tục đầu tư các dự án kiểm soát mặn, xây dựng hệ thống kiểm soát tại các sông lớn, nâng cấp đê biển và phát triển các công trình chuyển nước, kết nối nguồn nước giữa các vùng. Đồng thời, chú trọng các giải pháp trữ nước quy mô lớn trong hệ thống kênh rạch và quy mô nhỏ tại hộ dân như ao, mương, ruộng nhằm chủ động ứng phó hạn mặn.
ĐBSCL vẫn là vùng nông nghiệp trọng điểm, nhưng đang chịu tác động ngày càng nghiêm trọng từ phát triển thượng nguồn, biến đổi khí hậu và sụt lún đất. Vì vậy, định hướng phát triển phải theo hướng thích nghi có kiểm soát, chủ động điều tiết nguồn nước để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo phát triển bền vững.
PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam:
Trong những năm gần đây, tình trạng xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân. Đặc điểm nguồn nước của lưu vực sông Mê Kông cho thấy đây là một hệ thống có tính biến động theo năm khá lớn, với sự phân hóa rõ rệt giữa mùa lũ và mùa kiệt, mặc dù tổng lượng dòng chảy dài hạn không biến động nhiều. Dung tích hữu ích của toàn lưu vực dao động trong khoảng từ 65-73 tỷ m³.
Đối với ĐBSCL, nguồn nước mặt chủ yếu phụ thuộc vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông, chiếm tới 95%, trong khi nguồn nội sinh chỉ đóng góp khoảng 5%, tương đương 22 tỷ m³ và chủ yếu tập trung vào mùa mưa. Điều này cho thấy sự phụ thuộc rất lớn của đồng bằng vào các yếu tố ngoại sinh, đặc biệt là hoạt động khai thác và điều tiết nước ở thượng nguồn.
Trong giai đoạn từ năm 2001-2025, dung tích trữ nước đã có sự thay đổi đáng kể, từ khoảng 15 tỷ m³ lên 65-73 tỷ m³, và theo quy hoạch có thể đạt tới 110,4 tỷ m³. Tuy nhiên, song song với đó là sự gia tăng diện tích sản xuất nông nghiệp trong toàn lưu vực. Dự báo đến năm 2040, tổng diện tích này có thể tăng thêm 16%, đạt gần 6,7 triệu ha. Riêng tại Campuchia và Lào, diện tích nông nghiệp cũng gia tăng đáng kể, gây áp lực lớn lên nguồn nước.
Ông Nguyễn Hoàng Anh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ:
Đồng bằng sông Cửu Long những năm gần đây, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt vào mùa khô diễn ra ngày càng thường xuyên, đặc biệt tại các khu vực ven biển và cửa sông. Thành phố Cần Thơ - trung tâm của vùng, mặc dù có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc và nguồn nước tương đối dồi dào, nhưng đang chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng như ngập úng do triều cường, hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt vào mùa khô diễn ra ngày càng phổ biến.
Tình trạng sạt lở bờ sông, sụt lún đất cũng gia tăng, trong bối cảnh nhu cầu khai thác và sử dụng nước ngày càng lớn. Những thách thức này đang tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội bền vững của thành phố và toàn vùng, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải quản lý và sử dụng tài nguyên nước một cách hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
Trước thực tế đó, thành phố Cần Thơ đã và đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, đồng thời góp phần giảm sụt lún đất. Trong quy hoạch phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, thành phố xác định nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước là nhiệm vụ trọng tâm.
Thành phố tập trung phát triển các công trình trữ nước ngọt phục vụ mùa khô; ưu tiên sử dụng nước mặt, giảm dần khai thác nước ngầm nhằm hạn chế sụt lún, sạt lở, đồng thời tăng cường phục hồi, bảo vệ các nguồn nước bị suy thoái, ô nhiễm. Bên cạnh đó, thành phố xác định biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và nước biển dâng là xu thế tất yếu, do đó cần chủ động thích ứng từ sớm, từ xa với tầm nhìn dài hạn để phát triển bền vững.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, trong đó ĐBSCL là một trong những khu vực chịu tác động lớn nhất trên thế giới. Bên cạnh đó, các hoạt động khai thác, điều tiết nước ở thượng nguồn sông Mekong cũng đang ảnh hưởng đáng kể đến dòng chảy và nguồn nước của khu vực.
Những thách thức này đòi hỏi phải có cách tiếp cận tổng thể, liên vùng, liên quốc gia, với sự chung tay của các cấp, các ngành, cộng đồng và người dân trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước một cách hiệu quả và bền vững.
Ông Louis Lim - Giám đốc điều hành, Khối Bất động sản, Tập đoàn Keppel:
Thay mặt Tập đoàn Keppel, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Cục Quản lý Tài nguyên Nước thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Báo Tiền Phong, UBND TP. Cần Thơ và các đơn vị đồng hành đã phối hợp tổ chức hội thảo hôm nay với chủ đề An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu. Chúng tôi trân trọng cơ hội được cùng chia sẻ và thảo luận về một vấn đề mang tính sống còn đối với tương lai của khu vực.
Keppel là doanh nghiệp điều hành và quản lý tài sản trên toàn cầu có trụ sở tại Singapore, hoạt động ở hơn 20 quốc gia, cung cấp các giải pháp về năng lượng sạch và tái tạo, giảm phát thải carbon, tái tạo đô thị bền vững và kết nối số.
Trong 35 năm có mặt tại Việt Nam, Keppel không chỉ hiện diện qua các hoạt động kinh doanh mà còn thông qua nhiều chương trình vì cộng đồng. Từ năm 2021, Keppel Việt Nam đã đóng góp hơn 17 tỷ đồng cho các hoạt động về giáo dục, bảo vệ môi trường, và hỗ trợ cộng đồng khó khăn.
Trong lĩnh vực giáo dục, thông qua Bytes for Future - Cỗ máy tri thức, chương trình giúp trang bị kỹ năng số cho thế hệ trẻ, Keppel đã trao tặng 140 máy tính, đồng hành hơn 2.000 học sinh. Keppel cũng đã tài trợ 90 suất học bổng tại chương trình Nâng bước thủ khoa do Báo Tiền Phong tổ chức. Ngoài ra, Keppel còn có thư viện lưu động Words on Wheels - Bánh xe tri thức, mang đến sách, tài liệu học tập và Internet cho gần 38.000 học sinh của 32 trường tại Hà Nội và TPHCM.
Về bảo vệ môi trường, năm 2025, các tình nguyện viên Keppel đã trồng 1.000 cây xanh tại Khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu, tiếp nối nỗ lực trồng 3.000 cây tại Khu bảo tồn thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai vào năm 2022.
Để hỗ trợ cộng đồng kém may mắn, chương trình Grant A Wish - Trao tặng ước mơ, của chúng tôi - với sự chung tay của khách thuê, khách tham quan Saigon Centre và nhân viên Keppel - đã mang đến một mùa Giáng sinh ý nghĩa cho trẻ em kém may mắn. Ngoài ra, các đợt hiến máu thường niên từ năm 2019 của doanh nghiệp cũng đã tiếp nhận hơn 2.300 đơn vị máu, góp phần mang lại hy vọng cho khoảng 6.900 bệnh nhân.
Bên cạnh đó, Keppel cũng triển khai chương trình Living Well nhằm mang đến nước sạch cho người dân chịu ảnh hưởng bởi hạn mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long. Chúng tôi sẽ chia sẻ thêm chi tiết trong phần trình bày tiếp theo.
Keppel nhận thấy rằng giải quyết các thách thức về nguồn nước không chỉ là bài toán về mặt kỹ thuật, công nghệ mà còn đòi hỏi nỗ lực đối thoại, chia sẻ kiến thức và nâng cao nhận thức cộng đồng. Đây cũng là lý do Keppel đồng hành cùng UBND TP. Cần Thơ và Báo Tiền Phong tổ chức hội thảo hôm nay.
Chúng tôi hy vọng sự kiện sẽ tạo ra diễn đàn hợp tác giữa các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia và doanh nghiệp, góp phần xây dựng một ĐBSCL kiên cường hơn trước biến đổi khí hậu, đồng thời đồng hành cùng Việt Nam trên hành trình hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong:
Một nghịch lý đang hiện hữu ngay tại vùng đất trù phú bậc nhất cả nước - ĐBSCL: Giữa mạng lưới sông ngòi dày đặc vùng sông nước, người dân lại đang thiếu nước ngọt để sinh hoạt và sản xuất.
Những can nước phải chắt chiu trong mùa khô, những cánh đồng mới đầu mùa khô đã nứt nẻ, những vườn cây héo úa không còn là hình ảnh cá biệt, mà đang trở thành thực tế lặp đi lặp lại trong nhiều năm qua tại vùng đất này. Đó không chỉ là câu chuyện của thiên nhiên. Đó là lời cảnh báo về an ninh nguồn nước, một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững của ĐBSCL hôm nay và trong tương lai.
Những năm gần đây, ĐBSCL đang phải đối diện với những biến động chưa từng có. Nguồn nước mặt ngày càng phụ thuộc vào dòng chảy thượng nguồn. Trong khi đó, nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm trữ lượng và sụt lún đất. Vấn đề xâm nhập mặn không còn theo quy luật cũ mà ngày càng tiến sâu, kéo dài và khó dự báo.
Có những nơi, nước mặn đã vào tới từng con kênh nội đồng. Có những thời điểm, ngay cả nước sinh hoạt cũng bị ảnh hưởng. Người dân phải nhờ vào từng chuyến sà lan chở nước về để sử dụng. Không chỉ vậy, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cùng với sự suy giảm phù sa đang làm thay đổi cấu trúc tự nhiên của cả vùng. Đồng bằng không chỉ thiếu nước, mà còn đang mất đi những điều kiện nền tảng để tự phục hồi. Tất cả những yếu tố đó đã tác động trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu người dân, đến sản xuất nông nghiệp, đến môi trường và cả cấu trúc kinh tế - xã hội của vùng.
Trước những thách thức đó, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến nhấn mạnh yêu cầu buộc phải đặt ra những câu hỏi rất thẳng thắn:
Chúng ta sẽ tiếp tục thích ứng ra sao? Chúng ta sẽ đầu tư theo cách dàn trải hay tiếp cận theo tư duy tổng thể, liên kết vùng? Và quan trọng hơn, chúng ta sẽ hành động đến đâu trước những biến đổi đang diễn ra từng ngày?
Chính từ những câu hỏi đó, Báo Tiền Phong phối hợp với UBND thành phố Cần Thơ, cùng sự đồng hành của các cơ quan bộ ngành, các tổ chức và doanh nghiệp, tổ chức hội thảo An ninh nguồn nước đồng bằng sông cửu long trước thách thức biến đổi khí hậu.
Hội thảo không chỉ nhằm đánh giá thực trạng, mà còn hướng tới mục tiêu cao hơn, đó là tạo ra một diễn đàn kết nối, nơi các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân cùng ngồi lại để tìm lời giải cho bài toán an ninh nguồn nước của cả vùng. Với vai trò là cơ quan báo chí, Báo Tiền Phong không chỉ phản ánh thực trạng mà còn mong muốn góp phần thúc đẩy đối thoại chính sách, lan tỏa nhận thức xã hội và kết nối các nguồn lực cho phát triển bền vững.
Hội thảo sẽ cùng trao đổi, thảo luận xoay quanh những nội dung rất cốt lõi như: Nhận diện đầy đủ các nguy cơ, từ suy giảm nguồn nước, xâm nhập mặn, sụt lún đất đến những tác động sâu rộng đến sinh kế và môi trường. Phân tích những điểm nghẽn trong quản trị tài nguyên nước, từ cơ chế điều phối liên vùng, quy hoạch, đến chính sách và nguồn lực. Và đặc biệt, đề xuất các giải pháp không chỉ ở tầm vĩ mô, mà cả những giải pháp cụ thể, khả thi, gắn với thực tiễn đời sống người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hội thảo hôm nay diễn ra trong bối cảnh rất đặc biệt, đúng dịp Ngày Nước Thế giới 22/3, một sự trùng hợp không phải ngẫu nhiên, mà là một lời nhắc nhở rất rõ ràng: Nước không chỉ là tài nguyên mà là tương lai. An ninh nguồn nước không chỉ là câu chuyện của hôm nay, mà là cam kết với các thế hệ mai sau. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách tiếp cận, từ bị động sang chủ động, từ đơn lẻ sang liên kết, từ ngắn hạn sang dài hạn. Và hơn hết, cần một tinh thần chung, đó là coi an ninh nguồn nước là nền tảng của an ninh phát triển”, ông Nguyễn Ngọc Tiến nhấn mạnh.
Hội thảo có sự tham dự, cho ý kiến của các đại biểu, khách mời gồm:
- Ông Vũ Viết Hưng - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thuỷ lợi, Bộ NN&MT.
- Ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ NN&MT.
- PGS. TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam.
- Ông Nguyễn Hoàng Anh - Phó Giám đốc Sở NN&MT TP. Cần Thơ.
- Ông Văn Hữu Huệ - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Phạm Văn Mười - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Cà Mau.
- Ông Nguyễn Văn Bền - Phó GĐ Sở Tài chính TP. Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Minh Tuấn - Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL TP. Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Đăng Khoa - Phó GĐ Sở Xây dựng TP. Cần Thơ.
- NGƯT-PGS-TS. Đào Duy Huân - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ.
- PGS.TS Lê Anh Tuấn - Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường - Đại học Cần Thơ, Cố vấn Khoa học Viện Mekong.
- Ông Louis Lim - Giám Đốc Điều Hành Khối Bất Động Sản, Tập đoàn Keppel.
- Ông Joseph Low - Chủ tịch Keppel Việt Nam.
Cùng đại diện các sở, ngành, chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực tài nguyên nước, đại diện các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh trên địa bàn ĐBSCL.
Nhiều năm qua, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa, vựa trái cây, thủy sản của cả nước, giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước và xuất khẩu. Dù vậy, những năm gần đây, dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, các công trình thủy lợi phía thượng đã tác động tiêu cực tới nguồn nước ngọt về khu vực ĐBSCL. Thực trạng mùa lũ nước về tràn đồng ngày càng ít, trong khi mùa khô lại xảy ra hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở ngày càng nghiêm trọng.
Dù được gọi bằng vùng sông nước, nhưng vào mùa khô, xâm nhập mặn tiến sâu vào các sông bình quân từ 50-60km, gây ra tình trạng thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất tại nhiều khu vực, đặc biệt khu vực cửa sông, ven biển. Kèm theo đó còn các tác động tiêu cực như sụt lún, sạt lở đất, hay tình trạng ô nhiễm nguồn nước gây những tác động dài hạn tới sự phát triển bền vững của vùng.
Theo ghi nhận của PV Tiền Phong, mùa khô năm nay tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn ít nghiêm trọng hơn các năm trước, nhưng nhiều vùng ven biển, cửa sông của Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau vẫn thiếu nước ngọt cho sinh hoạt, sản xuất. Để chủ động phần nào nguồn nước ngọt, người dân phải đầu tư không ít tiền của để đào giếng, đắp ao trữ nước...
Trước thực tế trên, nhân Ngày nước thế giới (22/3), Báo Tiền Phong cùng UBND TP. Cần Thơ và đơn vị đồng hành - Tập đoàn Keppel tổ chức Hội thảo An ninh nguồn nước ĐBSCL trước biến đổi khí hậu.
Trước khi hội thảo diễn ra, lãnh đạo, ban tổ chức cùng các đại biểu đã tham quan khu triển lãm Living Well - sáng kiến do Keppel phối hợp với Báo Tiền Phong triển khai nhằm hỗ trợ người dân Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với hạn mặn.
Tại đây, các đại biểu được giới thiệu hành trình từ năm 2022 đến nay, khi chương trình đã triển khai tại 11 phường, xã thuộc 7 tỉnh, thành, cung cấp nước sạch cho gần 157.000 người, tương đương hơn 20 triệu lít mỗi năm.
Triển lãm trưng bày nhiều hình ảnh thực tế từ Bến Tre, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng… ghi lại khoảnh khắc người dân, học sinh tiếp cận nguồn nước sạch và nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường. Đáng chú ý, hệ thống lọc nước tích hợp năng lượng mặt trời giúp đảm bảo vận hành ổn định trong mùa khô.
Tại khu trưng bày, đại biểu trực tiếp quan sát mẫu nước trước và sau khi xử lý, cùng các thông tin về tình trạng xâm nhập mặn, điều kiện tự nhiên và sinh kế địa phương. Hoạt động giúp làm rõ hơn ý nghĩa thực tiễn của giải pháp Living Well đối với đời sống người dân vùng ĐBSCL.