Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Cao đẳng Sư phạm tại Việt Nam là một hành trình đầy thăng trầm, gắn liền với những biến động của thời cuộc và sự thay đổi trong tư duy giáo dục qua các thời kỳ. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện hiện nay, hệ thống này đang đứng trước những thách thức sinh tử về sự tồn tại và sứ mệnh trong tương lai.
Phóng viên Chuyên trang Sinh Viên Việt Nam - Báo Tiền Phong đã có cuộc trao đổi với TS Lê Viết Khuyến - Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam về chủ đề "Phải chăng Cao đẳng Sư phạm sắp hết thời?".
Thăng trầm mô hình Cao đẳng Sư phạm
Chia sẻ về hành trình lịch sử của hệ đào tạo này, TS Lê Viết Khuyến cho biết mô hình Cao đẳng Sư phạm đã trải qua nhiều biến động gắn liền với thời cuộc. Dấu mốc khởi thủy được xác lập bởi Nghị định ngày 25/12/1918 của Toàn quyền Đông Dương (Pháp). Dù mang danh "Cao đẳng" (Superior), nhưng thực chất giai đoạn đầu, trường chỉ tuyển người có bằng Cao đẳng Tiểu học (tương đương cấp 2 ngày nay) và đào tạo trong 3 năm. Xét về bản chất, trình độ lúc bấy giờ chỉ tương đương trung cấp, nhằm tạo ra đội ngũ cán sự thực hành.
Vị thế của hệ thống này chỉ thực sự thay đổi về chất sau cuộc cải cách giáo dục 1924-1925 và hoàn thiện vào đầu những năm 1940 khi nằm trong cấu trúc Viện Đại học Đông Dương. Lúc này, có sự phân định rạch ròi: trường đại học (Faculté) hướng tới nghiên cứu hàn lâm và cấp bằng Tiến sĩ; trong khi trường cao đẳng (École Supérieure) tập trung đào tạo kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu và không cấp học vị này.
Giai đoạn sau năm 1954 chứng kiến một sự "đứt gãy" lớn về mô hình. Tại miền Bắc, việc áp dụng mô hình giáo dục Liên Xô khiến khái niệm "trường cao đẳng" hoàn toàn biến mất, hệ thống này bị chuyển thành trung học chuyên nghiệp. Ngược lại, tại miền Nam, hệ cao đẳng vẫn phát triển dưới hình thức các Viện Đại học Cộng đồng theo mô hình Mỹ, đảm nhận đào tạo giáo viên THCS và giai đoạn đại cương để liên thông đại học.
Phải đến thời kỳ Đổi mới, Cao đẳng Sư phạm mới thực sự "hồi sinh" và có bước lột xác ngoạn mục nhờ quy trình "nuôi lớn" bài bản từ các trường Trung học Sư phạm địa phương. Ban đầu, các trường này áp dụng mô hình 7+3 (tuyển học sinh hết lớp 7, học 3 năm), sau đó nâng dần lên các hệ 10+1, 10+2 khi nguồn tuyển từ trung học phổ thông dồi dào hơn. Cột mốc quan trọng nhất là Quyết định 164-TTg ngày 21/3/1978 của Thủ tướng Chính phủ, chính thức nâng cấp 16 trường Trung học Sư phạm lên thành Trường Cao đẳng Sư phạm.
TS Lê Viết Khuyến nhấn mạnh: "Chính lộ trình 'chín muồi' từ thấp lên cao này (đỉnh cao là hệ 10+3) đã tạo nên một mạng lưới sư phạm địa phương vững chắc, giúp chuẩn hóa đội ngũ giáo viên THCS lên trình độ cao đẳng và đáp ứng nhu cầu học tập của con em các vùng miền suốt nhiều thập kỷ qua".
Nâng chuẩn là đúng nhưng cần lộ trình hợp lý
Từ năm 2019, hệ thống Cao đẳng Sư phạm bắt đầu đối mặt với nguy cơ "hết thời" do những thay đổi từ Luật Giáo dục sửa đổi. Việc nâng chuẩn trình độ giáo viên tiểu học, THCS lên đại học đã tước đi nguồn tuyển sinh chính của các trường Cao đẳng Sư phạm, dồn chỉ tiêu về các trường đại học trọng điểm vốn chưa có nhiều kinh nghiệm đào tạo giáo viên cấp cơ sở.
Lý giải về sự phân tầng trình độ giáo viên đã tồn tại nhiều thập kỷ qua ở Việt Nam, nơi giáo viên mầm non, tiểu học chỉ cần trình độ trung cấp hoặc cao đẳng, trong khi giáo viên trung học phổ thông bắt buộc phải có bằng đại học, TS Lê Viết Khuyến cho rằng nguyên nhân sâu xa nằm ở quan niệm coi giáo viên đơn thuần là những "người thợ dạy".
Theo tư duy cũ này, xã hội định giá trình độ giáo viên dựa trên khối lượng kiến thức bộ môn mà họ truyền tải. Giáo viên cấp ba phải giảng dạy Toán, Lý, Hóa chuyên sâu nên cần trình độ đại học; ngược lại, giáo viên mầm non hay tiểu học chủ yếu dạy các kiến thức sơ đẳng, tập trung vào hoạt động thể chất, năng khiếu hay rèn nền nếp, nên xã hội mặc định họ chỉ cần kiến thức chuyên môn thấp, tương ứng với bằng cấp thấp hơn.
Tuy nhiên, khi đối chiếu với xu hướng giáo dục hiện đại của thế giới, ngay cả tại các nước láng giềng như Thái Lan hay Malaysia, quan niệm trên đã trở nên lỗi thời. Tại các quốc gia này, giáo viên ở bất kỳ cấp học nào cũng được định vị là những "nhà giáo dục", do đó trình độ chuẩn tối thiểu cho mọi cấp đều phải là cử nhân.
Sự khác biệt giữa các cấp học không nằm ở bằng cấp cao hay thấp, mà nằm ở cấu trúc chương trình đào tạo được thiết kế như một đường xiên chéo. Đối với giáo viên mầm non và tiểu học, thời lượng đào tạo về khoa học giáo dục, tâm lý lứa tuổi chiếm tỷ trọng rất lớn, nặng hơn nhiều so với kiến thức bộ môn. Càng lên các cấp học cao hơn, khi tâm sinh lý học sinh đã ổn định, tỷ trọng các môn tâm lý giáo dục sẽ giảm dần để nhường chỗ cho sự chuyên sâu của kiến thức bộ môn. Sự thay đổi này gắn liền với cuộc chuyển dịch triết lý từ "tiếp cận nội dung" sang "tiếp cận phát triển năng lực", nơi người thầy chuyển vai trò từ người truyền thụ sang người hướng dẫn, tổ chức hoạt động để học sinh tự học.
Định hướng nâng chuẩn là đúng đắn, nhưng cách thức triển khai nóng vội hiện nay đang vấp phải những rào cản khổng lồ từ thực tế, đẩy hệ thống giáo dục địa phương vào tình trạng báo động.
Thống kê cho thấy một nghịch lý đáng buồn trong quy hoạch nhân lực: Nếu như năm 2014, cả nước từng thừa tới 35.000 giáo viên trung học cơ sở và phổ thông, thì đến cuối năm 2022, toàn ngành lại thiếu hụt trầm trọng tới 100.000 người, cùng với đó là làn sóng 16.000 giáo viên bỏ việc. Trong khi cơn khát nhân lực diễn ra gay gắt, mạng lưới các trường Cao đẳng Sư phạm, nơi cung ứng giáo viên chủ lực cho địa phương lại đang bị thu hẹp, giảm từ 30 trường xuống còn khoảng 22 trường sau năm 2020 do bị cắt chỉ tiêu đào tạo các cấp phổ thông.
Nghiêm trọng hơn, xu hướng sáp nhập cơ học các trường Cao đẳng Sư phạm vào các đại học khác đẳng cấp, hay chuyển sang hệ thống giáo dục nghề nghiệp đang khiến các trường này mất đi bản sắc và sứ mệnh giáo dục đại học vốn có. Sự nóng vội này càng trở nên bất cập khi áp dụng chính sách đồng loạt cho một đất nước đa dạng vùng miền như Việt Nam.
Việc sáp nhập cơ học các trường Cao đẳng Sư phạm địa phương vào các Đại học Quốc gia hay Đại học Vùng đang ảnh hưởng trực tiếp đến tính công bằng trong giáo dục. Các trường cao đẳng địa phương được thành lập với sứ mệnh đáp ứng nhu cầu nhân lực tại chỗ và tạo cơ hội tiếp cận tri thức cho con em vùng khó khăn. Nếu sáp nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai vào Đại học Thái Nguyên, cánh cửa đại học sẽ đóng lại với những học sinh nghèo ở Lào Cai do rào cản về chi phí và điểm chuẩn. Khi đó, mục tiêu nâng cao dân trí và đảm bảo công bằng xã hội sẽ bị phá vỡ, chưa kể đến việc đào tạo lại đội ngũ giáo viên cũ vốn đã quen lối mòn "đọc chép" sang phương pháp mới là điều không thể thực hiện trong một sớm một chiều, dẫn đến tình trạng "học chay" ở ngay cả những thành phố lớn như Hà Nội.
TS Lê Viết Khuyến: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng từng khởi đầu với hệ đào tạo 2 năm với nhiều Giáo sư trưởng thành từ đây, rồi mới dần lớn mạnh thành 4 năm. Tại sao chúng ta không cho các trường cao đẳng địa phương cơ hội đi theo lộ trình lịch sử đó?
Giải pháp nào cho Cao đẳng Sư phạm
Trước thực trạng đó, thay vì xóa sổ hay sáp nhập cưỡng ép, TS Lê Viết Khuyến đề xuất cần một giải pháp lộ trình dựa trên tính kế thừa lịch sử, điển hình là mô hình đào tạo liên thông "3+1". Đối với các trường Cao đẳng Sư phạm chưa đủ điều kiện lên đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần cho phép thực hiện quy trình đào tạo kết hợp: sinh viên học 3 năm nền tảng tại địa phương và 1 năm hoàn thiện tại các trường Đại học Sư phạm trọng điểm để nhận bằng cử nhân. Giải pháp này vừa tận dụng được cơ sở vật chất địa phương, vừa giúp sinh viên vùng khó khăn tiếp cận đại học với chi phí thấp.
Về lâu dài, các trường này nên chuyển đổi thành mô hình Cao đẳng Cộng đồng hoặc Đại học địa phương đa lĩnh vực, trong đó sư phạm là nòng cốt, thực hiện nhiệm vụ đào tạo theo cơ chế "đặt hàng" của chính quyền địa phương thay vì đấu thầu đại trà. Chỉ khi tôn trọng sự phân tầng và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống, chúng ta mới tránh được sự đổ vỡ của mạng lưới an sinh giáo dục đã dày công xây dựng hơn một thế kỷ qua.
Việc giải tán một trường học thì dễ, nhưng để xây dựng lại một cơ sở giáo dục với bề dày lịch sử và mạng lưới nhân lực địa phương là điều không thể. Đó là cái giá đắt mà nền giáo dục sẽ phải trả cho sự nóng vội.