Bà Trần Thị Thu Hằng - Trưởng phòng Lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường:
Kể từ năm 2008, mục tiêu phối hợp các hồ chứa lớn đã được xác định rõ là ưu tiên cắt giảm lũ cho hạ du. Tuy nhiên, việc điều phối hệ thống gồm hơn 600 hồ thủy điện và 7.000 hồ thủy lợi trên cả nước là một thách thức cực kỳ lớn. Nguyên tắc cốt tử trong vận hành luôn là đặt an toàn đập lên hàng đầu, bởi vỡ đập là một thảm họa không thể đong đếm.
Thực tế qua nhiều năm, với tổng dung tích phòng lũ bổ sung khoảng 2,15 tỷ m3 từ 134 hồ chứa trọng điểm, chúng ta đã giảm thiểu đáng kể các thiệt hại, nhưng quy trình này vẫn cần liên tục cập nhật để ứng với các kịch bản bất thường.
Điển hình tại lưu vực sông Ba, đợt lũ vừa qua rơi vào cuối mùa với tổng lượng lũ về lên tới 3 tỷ m3. Các hồ chứa đã nỗ lực hạ mực nước về mức chết để tạo dung tích đón lũ, nhưng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng quy trình liên hồ chứa không thể giải quyết triệt để bài toán ngập lụt cho Đắk Lắk. Đây không phải là vấn đề trách nhiệm của riêng cá nhân nào, mà đòi hỏi một chiến lược tổng thể bao gồm: Khai thác hiệu quả dung tích phòng lũ của các hồ chứa, củng cố hệ thống đê sông Ba và đê biển, đặc biệt là phải quyết liệt nạo vét, khơi thông dòng chảy để tăng khả năng thoát lũ ra cửa biển.
Sắp tới, Cục Quản lý Tài nguyên nước sẽ rà soát và điều chỉnh lại quy trình vận hành hồ chứa trên cả nước, đồng thời đẩy nhanh xây dựng hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS). Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất vẫn là thái độ ứng xư của chính quyền và người dân tuyệt đối không được chủ quan. Các địa phương cần chủ động học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, tổ chức diễn tập thực tế và trang bị đầy đủ công cụ, phương tiện cứu hộ. Chỉ khi người dân được thông tin kịp thời và có nhận thức đúng đắn về các tiêu chuẩn vận hành mới, chúng ta mới có thể chủ động thích ứng và giảm thiểu rủi ro trước những diễn biến cực đoan của thời tiết.
Ông Nguyễn An Phú - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk:
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, chúng tôi đã tham mưu các văn bản chỉ đạo gửi Tỉnh uỷ, UBND tỉnh triển khai về địa phương về phòng chống bão lũ.
Nguyên nhân khó khăn, theo tôi có một số nội dung như năng lực hồ chứa của địa phương còn nhỏ, trong khi lượng mưa lớn và cao tốc Bắc - Nam làm đê chặn dòng chảy. Đặc biệt bất lợi khi trong tháng 11/2025 triều cường diễn ra từ 20-21h khi lượng mưa đang lớn.
Địa phương đề xuất Trung ương sớm nghiên cứu quy trình vận hành hồ chứa, đầu tư hệ thống quan trắc, mô hình tính toán AI để chính xác hơn. Ngoài ra, phải sớm xây dựng chế độ vận hành nghiêm ngặt; sớm kiểm soát, điều hành chặt chẽ vì sông đi qua nhiều tỉnh, thành. Không những vậy, các chủ hồ chứa cần cập nhật tình hình phòng chống thiên tai và phải có chế tài với các chủ hồ chứa.
Ông Nguyễn Xuân Tùng - Phó trưởng Phòng Ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, Cục Quản lý thiên tai và phòng chống đê điều, Bộ Nông nghiệp và Môi trường:
Trong hai năm liên tiếp, nhiều vùng miền trên cả nước đã phải đối mặt với thiên tai cực đoan, xuất hiện những trận mưa lịch sử dẫn đến lũ lịch sử. Riêng năm 2025, lượng mưa nhiều nơi đo được đạt mức kỷ lục. Tại Gia Lai, Đắk Lắk và nhiều khu vực cũng ghi nhận giá trị mưa vượt lịch sử, khiến lưu lượng nước đổ về các hồ chứa tăng đột biến, vượt xa mức tính toán trong thiết kế.
Thực tế này cho thấy tính cực đoan, bất thường và khó lường của thiên tai, với hiện tượng “lũ chồng lũ” trong thời gian ngắn, gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác ứng phó. Trong khi đó, công tác dự báo mưa lũ còn sai số, làm gia tăng thách thức trong vận hành hồ chứa. Thời gian lũ đến nhanh, trong khi năng lực các hồ chứa có hạn, tổng dung tích chỉ chiếm một phần nhỏ so với lưu lượng lũ đổ về. Điển hình như hồ chứa sông Ba Hạ, dung tích hồ không đủ khả năng tích nước khi lũ lớn xảy ra, dẫn đến áp lực rất lớn trong công tác điều tiết.
Đối với những trận lũ lớn như năm 2025, chúng ta cần có phương án ứng phó cụ thể, để từ đó chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở phải chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn cho người dân. Trọng tâm là sơ tán dân kịp thời, xác định rõ các vị trí nhà cao, nhà cộng đồng, trụ sở cơ quan và nghiên cứu xây dựng nhà tránh lũ tại các khu vực xung yếu.
Ông Hoàng Văn Đại - Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia:
Xu thế bão lũ thời gian qua cho thấy, ngày một gia tăng, cực đoan, diễn biến phức tạp. Điều này có quan hệ chặt chẽ với biến đổi khí hậu. Năm 2025 là năm thiên tai khốc liệt khi có đến 21 cơn bão áp thấp nhiệt đới mà ta phải gánh chịu, trong đó có từ 8-10 cơn bão, cao hơn nhiều năm trước. Ngoài ra, các cơn bão diễn biến dồn dập, khốc liệt, dị thường hơn, cực đoan gây hệ lụy lớn.
Theo thống kê, có khoảng 22 con sông xuất hiện lũ lịch sử. Điển hình như thời điểm tháng 9, 10 và 11 năm 2025, chúng ta chứng kiến hai trận lũ lịch sử rất gần nhau. Đặc biệt là trận lũ ở khu vực Đắk Lắk, mưa tập trung ở trung và hạ lưu, gây nguy cơ lớn, kết quả là mực nước trên sông Ba vượt lũ năm 1993.
Như vậy, chúng ta có một bức tranh toàn diện là tác động khí hậu, thiên tai gây ra khốc liệt. Điều này cản trở lớn công tác phòng chống bão lũ. Khi thiên tai khốc liệt như vậy, cách ứng xử của chúng ta phải toàn diện hơn, cần sự chung tay của tất cả lĩnh lực để giảm tối đa rủi do.
Bão thiệt hại không lớn nhưng lũ lại rất lớn, đặc biệt lũ quét, sạt lở đất, thời gian gần đây phổ biến hơn. Hiện tượng cực đoan ấy giờ thấy bình thường, hàng ngày hơn. Bởi vậy mình phải ứng xử để hài hoà, giảm tối đa thiệt hại. Dự báo khí tượng, thiên tai, dông lốc, mưa lớn… thông thường xảy ra ở vùng khí hậu bất ổn định của khí quyển. Bởi vậy, phải nắm bắt được lượng mưa, đây là thông tin khởi đầu vào phương án để ứng phó.
Nguyên tắc dự báo càng ngắn, càng chính xác. Bởi trong dự báo về thuỷ văn là “tổ hợp của sai số của nhiều sai số” do có nhiều đầu vào khác nhau. Trong công tác dự báo, tất cả thông tin hồ không phải có tập trung, dữ liệu không đồng bộ, mỗi công trình lại có biện pháp về mặt quan trắc khác nhau. Ngành thuỷ văn luôn quán triệt về thông tin, truyền tin dự báo từ cơ quan quản lý đến người dân; cập nhật, khuyến cáo người dân và cơ quan quản lý cập nhật ngay.
Ông Trương Việt Bình - Phó trưởng Phòng Quản lý năng lượng, Sở Công Thương Đắk Lắk:
Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện có 25 công trình thủy điện, trong đó 3 thủy điện thuộc lưu vực sông Ba. Các công trình thủy điện trên lưu vực sông Ba, vào mùa mưa được vận hành theo nguyên tắc ưu tiên an toàn công trình, góp phần giảm lũ cho hạ du, đảm bảo hiệu quả cấp nước, phát điện và dòng chảy tối thiểu trên lưu vực sông. Vào mùa cạn, việc vận hành theo nguyên tắc bảo đảm an toàn công trình, đảm bảo nhu cầu sử dụng nước ở hạ du và dòng chảy tối thiểu, đảm bảo hiệu quả cấp điện.
Thủy điện Sông Ba Hạ nằm trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, do đó hằng năm Cục kỹ thuật an toàn môi trường - Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với các chuyên gia, đơn vị có liên quan tổ chức kiểm tra, đánh giá an toàn hồ đập thuỷ điện trước mùa mưa bão.
Sau đợt mưa lũ vừa qua, thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Lắk, Sở Công Thương đã tiến hành kiểm tra tình hình vận hành các công trình thủy điện trên lưu vực sông Ba. Qua kiểm tra, các nhà máy thủy điện báo cáo đã thực hiện đúng quy trình vận hành hồ chứa, chấp hành nghiêm các chỉ đạo lệnh vận hành trong suốt quá trình xảy ra lũ.
Ông Nguyễn Văn Minh - người dân khu phố Phú Ân, phường Tuy Hòa, tỉnh Đắk Lắk:
Dù bà con đã chủ động kê cao đồ đạc từ trước, nhưng nước lên quá nhanh, dòng chảy xiết khiến mọi sự chuẩn bị gần như không còn ý nghĩa. Nước từ thượng nguồn xuống rất mạnh, chỉ trong chốc lát là ngập hết. Tiếng kêu cứu vang khắp nơi.
Tuy nhiên, dòng nước chảy xiết, vật cản nhiều khiến việc tiếp cận cứu hộ vô cùng nguy hiểm. Ở hạ lưu sông Ba, người dân buộc phải sơ tán khẩn cấp, nhà thấp chuyển lên nhà cao, ước tính khoảng 500 người phải di dời trong tình thế cấp bách. Công tác cứu trợ gặp nhiều khó khăn khi các phương tiện đều sử dụng xăng, tiêu hao nhiên liệu lớn, trong khi khu vực bị mất sóng liên lạc kéo dài 3 ngày 4 đêm. Có lúc hoàn toàn không liên lạc được với bên ngoài, chỉ biết tự xoay xở, hỗ trợ nhau là chính.
Trước khi lũ xảy ra, chính quyền địa phương đã phát đi thông tin về việc xả lũ và mực nước đỉnh lũ rất lớn. Người dân dọc sông Ba cũng chủ động theo dõi diễn biến nguồn nước. Tuy nhiên, một bộ phận vẫn còn tâm lý chủ quan. Khi nước dâng cao, tuyến cao tốc bắc qua sông Ba cùng khu vực cầu Đinh Ông là những điểm bị ngập đầu tiên. Có nơi nước lũ tràn về quá nhanh, cuốn trôi cả nhà cửa, để lại cảnh tan hoang.
Các ngành sớm khắc phục hậu quả cho bà con vùng lũ, đồng thời nghiên cứu trang bị xuồng, ghe, phương tiện cứu hộ phù hợp cho người dân ở những khu vực xung yếu. Nếu có phương tiện ứng phó tại chỗ, bà con sẽ chủ động hơn, giảm bớt thiệt hại khi lũ lớn xảy ra.
Ông Nguyễn Tài Sơn - Phụ trách Ban An toàn đập, Hội Đập lớn Việt Nam:
Tổng lượng tài nguyên nước của Việt Nam ước khoảng 804 tỷ m³/năm, song phân bố rất không đều theo thời gian và không gian. Riêng 3 tháng mùa mưa chiếm hơn 72% tổng lượng nước, trong khi 9 tháng mùa khô chỉ còn khoảng 27%. Sự chênh lệch lớn này là lý do phải hình thành hệ thống hồ chứa để điều tiết nguồn nước.
Bên cạnh đó, tài nguyên nước cũng phân bố không đồng đều theo không gian: Có nơi thừa nước, có nơi thiếu nước, buộc phải tính toán bài toán trữ nước, điều tiết và phân phối liên vùng. Đặc biệt, miền Trung có đặc điểm địa hình dải đất hẹp, dốc, sông ngắn và độ dốc lớn. Muốn khai thác hiệu quả dòng chảy, quy hoạch nguồn nước phải dựa trên tổng thể địa hình, địa chất và coi tài nguyên nước là tài sản chung, phục vụ hài hòa các mục tiêu thủy điện, thủy lợi, giao thông, môi trường.
Ở miền Bắc, điều kiện địa hình cho phép xây dựng các hồ chứa lớn với dung tích cao, nên khả năng chống lũ tốt hơn. Ngược lại, miền Trung và Tây Nguyên rất khó tìm được không gian và diện tích để xây dựng hồ lớn nên hệ thống hồ chứa được xây dựng chủ yếu là nhỏ và vừa.
Trong đợt lũ vừa qua, lưu vực sông Ba có 11 bậc thang thủy điện, trong đó 5 công trình có hồ chứa tương đối lớn gồm: Krông H’năng, Sông Hinh, Ayun Hạ và Ka Nak. Khi lũ vượt quá khả năng thiết kế, việc vận hành hồ là bài toán rất khó khăn. Tuy nhiên, các hồ chứa này không hề vô dụng: Có 3 công trình đã tham gia cắt lũ, với tổng lưu lượng cắt được hơn 2.000 m³/giây.
Theo nghiên cứu, nếu không có các hồ chứa thượng lưu, lưu lượng đỉnh lũ trên sông Ba có thể vượt 18.000 m³/giây, gây hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều.
- Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến: Trong đợt mưa lũ lịch sử vừa qua, có nhiều thông tin trái chiều nhau liên quan đến vai trò của thuỷ điện? Trong đó có ý kiến cho rằng, có tình trạng lũ chồng lũ?
- GS, TS. Nguyễn Quốc Dũng - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam:
Dưới góc độ chuyên môn, thủy điện không phải là "vị cứu tinh" tuyệt đối nhưng chắc chắn không phải là "thủ phạm" gây lũ. Thực tế, hồ chứa là công cụ kỹ thuật chiến lược có khả năng cắt giảm từ 60-90% đỉnh lũ, tạo ra "giờ vàng" quý giá cho hạ du sơ tán. Hiện tượng "lũ chồng lũ" thường bị hiểu lầm, thực chất nó bắt nguồn từ các hình thái thiên tai cực đoan liên tiếp.
Khi hồ đã đầy, để bảo vệ an toàn đập, buộc phải vận hành xả lượng nước bằng lượng nước đổ về (Qxả=Qđến). Áp lực này khi cộng hưởng với đỉnh lũ sông nhánh và triều cường trong điều kiện lòng sông thoát lũ hạn chế sẽ khiến nước dâng nhanh. Để tối ưu hóa mặt tích cực, chúng ta cần chuyển dịch sang quản trị thông minh bằng cách minh bạch hóa dữ liệu qua hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) và quản lý rủi ro tổng thể toàn lưu vực thay vì chỉ tập trung vào thân đập.
- Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến: Làm thế nào để hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, Doanh nghiệp và Người dân?
- GS,TS. Nguyễn Quốc Dũng:
Để giải bài toán này, cần chuyển từ tư duy mệnh lệnh hành chính sang cơ chế "đối tác chia sẻ rủi ro" dựa trên 3 trụ cột.
Thứ nhất, lấy công nghệ làm "trọng tài" qua hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) và bản đồ ngập lụt động để người dân giám sát trực tiếp, xóa bỏ nghi ngờ và chủ động ứng phó.
Thứ hai, xây dựng thể chế linh hoạt cho doanh nghiệp bằng cách cho phép hạ mực nước hồ đón lũ sớm trước 72 giờ để giảm sốc lũ cho hạ du, đồng thời áp dụng cơ chế "tích nước bù" để đảm bảo kinh tế cho hồ chứa.
Thứ ba, Nhà nước cần đóng vai trò điều tiết hạ tầng thông qua việc nạo vét luồng lạch cửa sông và thúc đẩy bảo hiểm rủi ro thiên tai. Sự hài hòa chỉ đạt được khi doanh nghiệp coi cắt lũ là trách nhiệm lâu dài, người dân tin tưởng hồ chứa là "lá chắn" và Nhà nước dùng công nghệ để điều phối công bằng.
Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong:
Việt Nam vừa trải qua một trong những năm thiên tai khốc liệt nhất khi gần 3/4 diện tích cả nước hứng chịu mưa lũ lịch sử, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Thiên tai đã làm 468 người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế ước gần 100.000 tỷ đồng. Thực tế đau xót này cho thấy tác động ngày càng rõ rệt của biến đổi khí hậu, với các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện dày hơn, mạnh hơn và khó dự báo hơn.
Những trận mưa kỷ lục, lũ chồng lũ, bão mạnh trái quy luật đã đặt hệ thống hạ tầng phòng chống thiên tai, đặc biệt là các công trình thủy điện, trước những thách thức chưa từng có. Điều đó đòi hỏi phải thay đổi tư duy phát triển thủy điện theo hướng hài hòa hơn, lấy an toàn con người và hệ sinh thái làm ưu tiên hàng đầu. Quy trình vận hành hồ chứa cần được cập nhật linh hoạt theo các kịch bản khí hậu mới, tính đến những tình huống cực đoan nhất.
Bên cạnh đó, yêu cầu phối hợp liên ngành, liên vùng và minh bạch thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Việc chia sẻ dữ liệu dự báo, cảnh báo sớm và thông tin vận hành hồ chứa cần kịp thời, thống nhất, dễ tiếp cận để chính quyền và người dân hạ du chủ động ứng phó.
Xuất phát từ thực tiễn nói trên, tại Đắk Lắk - địa phương chịu thiệt hại nặng nề do mưa lũ vừa qua, Báo Tiền Phong tổ chức tọa đàm “Thủy điện và bài toán phát triển bền vững hậu bão lũ lịch sử”. Tọa đàm kỳ vọng trở thành diễn đàn đối thoại thẳng thắn, đa chiều, nơi các cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, người dân và báo chí cùng nhìn thẳng vào thực tế, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp, góp phần hướng tới phát triển thủy điện an toàn, bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Chiều 6/2, Báo Tiền Phong tổ chức Tọa đàm: “Thủy điện và bài toán phát triển bền vững hậu bão lũ lịch sử”, tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.