Google News

Những dòng sông

TP - Trong những thứ ta yêu và làm hồn ta dịu lại chắc chắn có những dòng sông, ít nhất là con sông quê nhà, con sông gắn với tuổi thơ và nuôi dưỡng ta lớn lên cả phần xác lẫn phần hồn.

Thực sự trong chuyến đi Ai Cập ấy, điều tôi tiếc và ân hận nhất là không xuống bơi được ở sông Nile, con sông dài nhất thế giới. Tôi đã có cơ hội, nhưng vì tính tuân thủ, có thể nói là sự tử tế nữa mà cơ hội đó trôi tuột mất.

Được dừng nghỉ qua đêm ở khu nghỉ dưỡng nằm trên một đảo trên sông Nile, sáng ra, tôi nhìn lối xuống sông và thấy khoảng nước gần bờ mọc đầy cây như cỏ năn, cỏ lác nghĩ vậy là nước không sâu, dòng chảy không mạnh nên định bụng thực hiện niềm mơ ước thả mình xuống nước dòng sông mẹ của châu Phi. Về phòng, tôi mặc sẵn đồ bơi ở trong, mang kính bơi và khăn tắm ra bờ sông định bụng có cơ hội là trút bỏ quần áo ngoài xuống nước. Nhưng ra đến nơi, tôi thấy có một cậu bảo vệ đứng giám sát ở đó, chợt nghĩ mình phải tỏ ra là một du khách văn minh nên lại gần nói tôi bơi rất tốt, từ Việt Nam xa xôi tới đây, mơ ước được xuống bơi một chút ở sông Nile. Cậu bảo vệ nói phải xin phép sếp đã và rút điện thoại gọi. Xong cậu bảo tôi đợi chút, sếp nói sẽ xuống giải quyết ngay. Vậy là tôi hồi hộp đứng đợi, chốc chốc lại hỏi và được cậu bảo vệ trả lời là sếp sắp xuống. Cứ vậy mất khoảng gần bốn chục phút, gần đến giờ cả đoàn rời đi, đành xách túi quay về phòng. Lẽ ra tôi nên lẳng lặng đi cách xa một đoạn, cởi quần áo ngoài và xuống nước. Cùng lắm là bị đuổi lên bờ.

d1.jpg
Thuyền rước nước gần Ngã ba Bạch Hạc hợp lưu của sông Hồng, sông Lô, sông Đà

Đến các dòng sông lớn cũng là một trong các niềm mơ ước từ bé của tôi. Hồi đó, nhà tôi có cuốn Atlas do Liên Xô in màu, trong đó có bản đồ các châu lục, các đại dương, hình các ngọn núi, các dòng sông… lớn trên thế giới. Những bản đồ và hình vẽ ấy làm nảy sinh trong tôi mơ ước được đến những nơi đó. Nhưng buồn rầu mà nói, cho đến nay, trong mười dòng sông lớn và dài nhất trên thế giới, tôi mới đến tận nơi và đi thuyền được trên mỗi sông Nile. Một chút an ủi kiểu AQ là tôi đã đến rất gần nhiều con sông Top 5 như Amazon, Mississippi, Trường Giang, Hoàng Hà…, chỉ cách chừng mười một cây số khi bay ngang qua bên trên chúng trong những chuyến đi Trung Quốc, Bắc và Nam Mỹ.

Các dòng sông trên thế giới dù dài, dù rộng, dù giàu có về văn hóa - lịch sử đến đâu cũng không so được trong lòng với những dòng sông quê hương.

Tôi đã từng nghĩ mình không có cơ may đến được sông Nile cho nên khi làm bài thơ kiểu bông đùa tâng bốc quê hương Thanh Hoá của mình lên mây, tôi đã viết Sông Nile dài nhất hành tinh/ Chẳng qua nhánh của quê mình sông Chu (ở xứ Thanh, sông Chu là con sông đứng thứ hai, sau sông Mã). Viết như thế ngoài việc bốc thơm quê hương thì cũng là làm thường bớt đi nỗi thất vọng không đến được sông Nile. Ấy nhưng lần ấy, tôi không những đã đến mà được hai lần bơi thuyền trên nó. Một ở Cairo, trên chiếc du thuyền nhà hàng vừa phục vụ bữa tối cho du khách vừa di chuyển trên sông đi về vài tiếng đồng hồ. Tối đó, tôi đã đứng khá lâu trên tầng ba, là tầng thượng không mái của con tàu du lịch, đón cái gió sông lành lạnh, nhìn ngắm ánh đèn rực rỡ hai bên bờ của thủ đô Ai Cập - đại đô thị Cairo với hơn hai chục triệu dân. Lần hai là ở thành phố Luxor, khoảng ba nghìn rưỡi năm trước có tên là Thebes từng là kinh thành của Ai Cập cổ đại. Trên chiếc thuyền truyền thống Felucca chạy bằng buồm giữa hoàng hôn, ngoài chuyện cùng bạn bè ngắm và chụp ảnh thoả thích với bối cảnh là lửa tàn ngày của mặt trời rừng rực trên sông, tôi cũng nghĩ về dòng sông mẹ của nền văn minh Ai Cập cổ đại mà những di tích hoành tráng quá sức tưởng tượng của nó còn dày đặc ở hai thành phố ven sông mà tôi được đến là Cairo và Luxor. Thật thú vị nghĩ về hàng nhiều nhiều vạn phiến đá mỗi phiến nặng hàng chục, vài chục, vài trăm tấn đã trôi trên sông Nile như chúng tôi bây giờ để đến những nơi xây dựng các công trình vĩ đại như các kim tự tháp gần Cairo và các đền đài hùng vĩ ở Luxor.

a1.jpg
Hoàng hôn trên sông Nile. Ảnh: Lê Xuân Sơn

Không có các dòng sông, không có các nền văn minh vĩ đại. Những dòng sông lớn đã đẻ ra những châu thổ, những đồng bằng, nền nông nghiệp và buôn bán; đẻ ra lối sống, ra các nền văn minh. Và một điều rất rõ là phần lớn các thành phố, ít nhất là các thành phố quan trọng trên thế giới đều nằm cạnh hoặc trên một con sông.

Nhưng không chỉ có các công trình, bởi chúng chỉ là thành quả mãi sau này, trước hết sông Nile cũng như những dòng sông lớn đã đẻ ra những châu thổ, những đồng bằng, nền nông nghiệp và buôn bán; đẻ ra lối sống, ra các nền văn minh. Các dòng sông lớn đã đẻ ra các nền văn minh vĩ đại - đó là thực tế khi nền văn minh Lưỡng Hà ra đời nhờ sông Tigris và sông Euphrates, văn minh Ấn Độ - sông Hằng và sông Ấn, văn minh Trung Hoa - sông Trường Giang (Dương Tử) và sông Hoàng Hà, văn minh La Mã - sông Tiber…

*

Một điều rất rõ là phần lớn các thành phố, ít nhất là các thành phố quan trọng trên thế giới đều nằm cạnh hoặc trên một con sông. Bắc Kinh có sông Vĩnh Định chảy qua, còn trong nội thành có sông Lương Thuỷ; Thượng Hải có sông Hoàng Phố; Delhi thủ đô Ấn Độ có sông Yamuna; Mumbai (Bombay) có sông Mithi và sông Poisar; Roma có sông Tiber; ở Madrid là sông Manzanares; Berlin có sông Spree; Frankfurt thậm chí có tên đầy đủ là Frankfurt trên sông Main; New York bên sông Hudson; Washington có Potomac; Praha - sông Vltava; Warsawa - sông Wisla; Mátxcơva thì nằm trên dòng sông mang chính tên nó…

e-1.jpg
Sông Đồng Nai đoạn qua Di Linh, Lâm Đồng cũ

Tôi có một niềm tự hào là đã đến hoặc đi qua nhiều con sông trong số vừa kể. Thú vị nhất là mấy lần đến được Danube, dòng sông trong tâm tưởng từ lâu lắm rồi từ khi tôi còn là cậu sinh viên nằm trong ký túc xá của Đại học Quốc gia Kuban (mang tên của dòng sông Kuban ở miền nam nước Nga) nghe đi nghe lại không biết bao lần đĩa than có bản nhạc “Danube xanh” của nhạc sĩ Áo Strauss. Tiếng nhạc như tiếng sóng dập dềnh, dào dạt vỗ bờ đó là những âm điệu mà hồn tôi ưa nhất cùng với các bản nhạc ngắn khác như “Thư gửi Elise” của Beethoven, “Bản nhạc Polonaise” của Oginski…

Sông Danube chảy qua mười nước và bốn thủ đô là Vienna (Áo), Belgrade (Serbia), Bratislava (Slovakia) và Budapest (Hungary). Lần đến Budapest, tôi đã qua lại trên những chiếc cầu bắc qua nó mà không để ý, nhưng khi đến Vienna thì tôi đã đứng lặng trên núi Kahlenberg ngắm dòng Danube như băng giấy trắng khổng lồ với nhiều đường chì ngang là những cây cầu trên nền đại cảnh của thủ đô nước Áo, tai lắng nghe ông anh sống ở Vienna mấy chục năm nói về Festival âm nhạc được tổ chức trên sông này. Tôi cũng đã đến vài dòng sông văn hoá khác, như từng ngồi trong quán cà phê cạnh sông Neva ở Saint Petersburg mà trên tường quán đề dày tên các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ lớn của Nga, Liên Xô và châu Âu, trong đó có cả thi hào Pushkin, những người đã từng tiêu tốn không ít thời gian ở đây. Hôm đó, tôi đã thầm nhớ đến những câu thơ của Olga Berggolts “Lớp trẻ lớn lên lại tiếp bước theo ta/ Lại nhấp vị ngọt ngào thuở trước/ Vẫn ráng chiều sông Neva và bóng nước/ Nhưng nghĩ cho cùng họ có lỗi đâu anh”.

d2.jpg
Thủ tục xin được rước nước và đất phù sa mới trên roi đất bồi giữa sông Hồng gần Bạch Hạc

Tôi cũng từng dạo bước trên cầu Westminster để chụp ảnh tháp đồng hồ Big Ben nổi tiếng của London rồi tựa thành cầu nhìn xuống dòng sông Thames. Cũng không bao giờ quên được chuyến đi trên sông Seine mà mắt cứ tìm trong số mấy chục cây cầu ở Paris cây nào là cầu Mirabeau, bởi tại bài thơ “Cầu Mirabeau” của Apollinaire: “Dưới cầu Mirabeau sông Seine trôi/ Và tình yêu đôi ta, nên chăng, tôi nhớ lại bồi hồi/(…) /Tối đã đến giờ điểm rồi/ Ngày tháng đi qua, đứng lại mình tôi”. Hôm đó, tôi cũng được từ dưới sông ngắm Nhà thờ Đức Bà. Tất nhiên là để nhớ tới tiểu thuyết “Thằng gù Nhà thờ Đức Bà” của Victor Hugo.

*

Phải nói thẳng, các dòng sông trên thế giới dù dài, dù rộng, dù giàu có về văn hoá đến đâu cũng không so được trong lòng với những dòng sông quê hương. Tôi đã được đi nhiều trên đất nước mình, đến nhiều dòng sông và có nhiều kỷ niệm.

Tôi đã đến những dòng sông ở hai địa đầu đất nước. Một sáng tinh sương mặt trời còn chưa mọc, tôi đã đứng ngắm núi non và dòng sông dưới hẻm núi sâu thẳm ở Lũng Cú, Hà Giang, nhớ đến mối tình xưa của nhà văn Nguyên Ngọc và cô gái Mông Thảo Mỷ rồi viết câu thơ “Mã Pi Lèng ơi ta chào nhé/ Nho Quế dòng xanh chảy miệt mài”. Tôi từng đi tàu thủy từ Cà Mau xuống Năm Căn rồi thuê một cái xuồng cao tốc phi từ đó xuống Đất Mũi, tổng cộng cả trăm cây số mà không biết mình đã qua những sông nào Cái Lớn hay Ghềnh Hào hay Ông Đốc…, chỉ biết là mênh mông là dằng dặc những sông những nước, những kênh những rạch và các cánh rừng đước, mắm, dừa nước… Để rồi đi thuyền trên sông Rạch Tàu ngầu đục phù sa và dày đặc những tàu bè mà ngắm nhà cửa, tiệm hàng ken dày, dân cư đông đúc của xã Đất Mũi cực Nam của Tổ quốc.

Tôi cũng từng đi trên những dòng sông lớn nhất của đất nước. Đã từng thức trọn đêm trên cầu Chương Dương khi nó mới được làm xong và bắt đầu thu phí vào cuối những năm tám mươi, nhìn xuống đen thẫm sông Hồng - dòng sông Mẹ của đất Bắc mà ngẫm ngợi những nỗi niềm châu thổ. Nhưng đoạn sông Hồng tôi hay đi cách đó chừng một trăm cây số về phía thượng nguồn. Đã nhiều năm, cứ vào mùa Xuân, gần dịp Thanh minh, tôi lại theo một đoàn phật tử đi thuyền rước nước (lấy nước và đất phù sa mới về bồi tưới phần mộ tổ tiên và cây cối) trên sông Hồng gần ngã ba Bạch Hạc - Việt Trì, Phú Thọ, nơi gặp nhau của ba con sông Hồng, Đà và Lô, tạo nên hai luồng nước bên trong, bên đục trước khi hoà lẫn vào nhau. Một lần trên con thuyền như thế, tôi đã viết bài thơ “Rước nước” trong đó có những câu: “Thuyền lên Bạch Hạc ngả ba/ Đống cồn mọc giữa phù sa mỡ màng/ Bãi bờ cỏ rối mang mang/ Giữa dòng trong - đục hai hàng chảy xuôi/ Duềnh lên dòng lẫn nhau rồi/ Thể như thiện – ác bể đời khó minh/ Chân mây rạng cõi nhân sinh/ Bầu trời, cảnh Phật bỗng linh sắc hồng/ Doi bồi nay có mai không/ Ngẫm trong trời đất thần thông, vô thường”.

c1.jpg
Sông Chu

Tôi cũng từng nằm xà lan chở đầy lúa trôi mấy ngày trên sông Tiền rộng mênh mông. Ấy là khi cả đại đội học viên quân sự chuẩn bị được gửi sang du học bên Tây gồm chủ yếu là lính cậu chúng tôi được điều đi gặt lúa ở Hậu Giang đầu những năm tám mươi đói kém.

Tôi đã qua những con sông nổi tiếng của miền Trung, trong đó nhiều sông tên chỉ có một từ, những Chu, Mã, Lam, La, Gianh, Hương, Hàn, Côn, Ba… những con sông không chỉ trọng yếu về địa lý mà còn ngát hương lịch sử, văn hóa.

Tôi có những rung cảm mạnh với sông Ba ở Phú Yên, một phần bởi mảnh đất này do một tiền bối đồng hương Thanh Hóa (tướng Lương Văn Chánh của Chúa Nguyễn Hoàng) chỉ huy cuộc khai phá hồi thế kỷ 16, nhưng chủ yếu là bởi thấy dày những danh thắng kèm theo con sông ở đất Tuy Hòa. Rung cảm để viết những câu thơ: “Con sông Ba vẫn mải miết độc hành/ Cầu Đà Rằng chàng đi, nàng đợi/ Hoàng hôn buông, ngọn Chóp Chài thẫm tối/ Chim đã về núi Nhạn, tháp chờ ai”.

Tôi từng gặp những hiểm nguy khi đi trên sông. Đó là lần đang đi trên chiếc ca nô Biên phòng ở sông Sài Gòn ngay chính tại cửa biển rộng mênh mông thì bất thần trời nổi gió cả, sóng to. Hay lần bơi sông Chu mùa nước cạn mà suýt chết ngạt vì cái quần dài cởi ra thắt ở cổ xuống nước phồng to lên thít chặt…

Trên đây tôi chỉ nêu tên một số con sông hoặc là lớn, hoặc là tiêu biểu ở các vùng miền, hoặc nổi tiếng về phương diện lịch sử - văn hoá, hoặc tôi có kỷ niệm nào đó chứ còn rất nhiều con sông Việt lớn nhỏ khác tôi đã đến hoặc đi qua.

Nhớ thương lắm, thương nhất là những con sông nơi quê cha đất tổ. Quê cha tôi nằm gần sông Mã, đoạn chỉ cách mươi cây số nữa là ra đến biển. Hồi nhỏ, tôi không được ở quê nội nên không có được những kỷ niệm đáng kể về dòng sông này. Chỉ nhớ là ngày xưa, mỗi lần về quê, qua cầu Hàm Rồng, tôi hay nhìn xác chiếc máy bay Mỹ bị bắn trúng khi đang lao xuống cắt bom nên đâm cắm thẳng xuống dòng sông và được để đó nhiều năm ròng như chứng tích về một thời đạn bom khốc liệt. Hồi bé, tôi được chứng kiến những trận đánh ở cầu Hàm Rồng từ khoảng cách khoảng 40 cây số, thấy máy bay Mỹ như những con châu chấu nhào xuống, bốc lên, nghe tiếng đạn bom, pháo, tên lửa nổ lục bục và quầng sáng do bom đạn rực lên từ phía đó đêm đêm. Xác chiếc máy bay đó đã được dọn đi từ lâu, chắc để thông dòng. Đôi năm trước, tôi cùng chúng bạn tuổi thơ đi theo tuyến du lịch ngắn trên sông Mã từ chính cầu Hàm Rồng lên đến Ngã ba bông, thấy hai bên bờ sông Mã dày những di tích, thắng cảnh. Ngã Ba Bông là nơi con sông Chu đổ vào sông Mã.

Sông Chu, đó mới là con sông của tuổi thơ tôi.

Sông Chu nằm giữa cơ quan mẹ tôi và làng quê ngoại nên hồi nhỏ, tôi qua lại rất nhiều lần trên những con đò gỗ mà người chống đò làm cho nó di chuyển bằng cách cắm chiếc sào rất dài xuống lòng sông rồi đi lại trên thành đò để đẩy. Tôi say mê nhìn con sào hút vào lòng sông và nhất là người lái đi lại trên mép đò chênh vênh như làm xiếc. Cảnh đó thật đáng sợ vào mùa nước to, sông cuồn cuộn chảy đục ngầu và đầy những củi rác cùng xoáy nước. Những ngày lạnh, ngày rét mà phải qua đò thì thật tê tái. Nên sau này, mỗi lần đọc bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” đến câu “Gió về lạnh lẽo dâng mây trắng/ Người ấy bên sông đứng gọi đò”, thể nào tôi cũng nhớ về cái bến đò và con sông tuổi thơ ấy. Giờ tại bến cũ đã dựng lên một cây cầu. Đi lại rất tiện lợi, nhưng mỗi lần qua, nhìn xuống dòng sông yêu mến không còn bóng những con đò, tôi vẫn thấy đôi phần trống vắng. Và bật ra câu thơ trong bài “Ta về”: “Vườn ai sót ngọn cải ngồng/ Mắt ai giờ đã như sông vắng đò”.

Sông Chu mang nhiều phù sa mùa mưa lũ lên bãi bờ của nó rất màu mỡ. Tôi nhớ những bãi dâu, bãi ngô mơn mởn, xanh biếc hồi đó. Một lần, cuối đông, đạp xe trên đê sông Chu về quê nội, tôi bỗng thấy một làn gió sông thổi lên hương hoa ngô rất đậm, cảm giác như hương đặc quánh lẫn phấn hoa. Sau này, trong một bài thơ nhớ quê hương, tôi viết: “Dải hương sen ngát từ trưa hồ mùa hè/ Và vạt thơm đặc phấn ngô vụ đông”.

Sông Chu là một dòng sông lịch sử. Trên bờ của nó có nơi phát của hai vương triều Tiền Lê (Lê Hoàn ở Xuân Lập, huyện Thọ Xuân cũ của Thanh Hoá) và Hậu Lê (Lê Lợi ở Lam Sơn cũng thuộc huyện Thọ Xuân cũ), từng có những kinh đô chính trị - hành chính (Vạn Lại – Yên Trường) và tâm linh thờ cúng (Lam Kinh)…

Sông Chu, con sông quê yêu thương ấy khiến tôi một hôm ở Hà Nội, cách xa nó một trăm rưỡi cây số, bỗng ngồi vào bàn mà viết:

SÔNG CHU

Lúc đục ngầu giận dữ/ Khi trong vắt hiền từ/ Sông mềm như dải lụa/ Uốn qua miền tương tư/ Những vui buồn tuổi thơ/ Theo nguồn sông chảy mãi/ Những con đò qua lại/ Và màu xanh bãi bồi/ Dòng sông mải miết trôi/ Qua những miền cổ tích/ Những Xuân Lập, Lam Kinh/ Những vương triều chuyển dịch/ Sông in trời ngọc bích/ Bên ngô bãi, dâu nương/ Nghìn năm người yêu thương/ Tảo tần bên sông mẹ/ Bước thời gian rất nhẹ/ Sông khi lở khi bồi/ Dẫu vật đổi sao rời/ Vẫn mạch nguồn thương nhớ.