“Lời tiên tri” giữa biển cả... - Kỳ 2

TP - Đoàn của đ/c Lê Duẩn ra đi gồm 15 người trên một chiếc commăngca vào đến Quảng Bình thì không đi ô tô được nữa mà phải đi bộ men theo đường Trường Sơn, có lúc đi bằng xe đạp. Đ/c Lê Duẩn cũng đạp xe như mọi người...

Tổng Bí thư Lê Duẩn nói chuyện thân mật với các đại biểu tham dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ 3. Ảnh: Mai Nam

>> Con đường vào đời: Xuất gia?

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong một bài viết của mình có đoạn: “Mọi người, kể cả các nhà trí thức Nam Bộ tầm cỡ như Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Nguyễn Thành Vĩnh, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Hưởng, Ngô Tấn Nhơn... đều nói về Anh Ba với một thái độ kính phục và quý mến, gọi Anh bằng biệt danh “Ông deux cents bougies” (nghĩa là “Ông hai trăm bugi”) để diễn tả sức làm việc, sự sáng suốt, uyên bác của Anh”.

Như đã nói ở phần trước, ngay từ thuở thiếu niên, cậu Thông Nhuận luôn tỏ ra khác lạ với những trẻ cùng lứa tuổi, lúc nào cũng tự đặt ra những câu hỏi rồi tìm cách trả lời. Sau này, có người đúc kết rằng: “Lê Duẩn là một người suốt đời say mê đi tìm tòi chân lý”.

Thông Nhuận còn khác chúng bạn cùng tuổi ở chỗ trong khi những thanh thiếu niên khác thường thích đọc những sách tình yêu lãng mạn hay truyện kiếm hiệp thì Thông Nhuận luôn say mê với các loại sách đạo giáo, triết học...

…Vào những năm 50 của thế kỷ trước, một câu hỏi lớn đặt ra không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn cả cho phe XHCN là: Việt Nam có dám đánh và đánh có thắng đế quốc Mỹ xâm lược? Có một sự thật là ở thời điểm đó không phải không có người sợ Mỹ và họ đưa ra phương thức “chung sống hòa bình”, tập trung xây dựng XHCN ở miền Bắc cho thật vững mạnh rồi sẽ tính tiếp…

Câu hỏi trên lại được đặt ra trong bối cảnh: Từ năm 1955 đến 1958 cả miền Nam tổn thất 9 phần 10 cán bộ,  đảng viên. Nam Bộ có khoảng 7 vạn cán bộ, đảng viên bị địch giữ, gần 90 vạn cán bộ nhân dân bị bắt, tù đày, 20 vạn bị tra tấn thành thương tật…

Ở khu V, khoảng 40% tỉnh ủy viên, 60% huyện ủy viên, 70% chi ủy viên xã bị bắt bị giết, có tỉnh chỉ còn 2-3 chi bộ, riêng Trị Thiên chỉ còn 160/23.400 đảng viên… Tại miền Tây Nam Bộ, sau khi ký Hiệp định Genève có hơn 30.000 đảng viên, đến năm 1959 chỉ còn  2.200. Tại tỉnh Gia Định thậm chí chỉ còn duy nhất 2 chi bộ.

Tình hình cán bộ thì như thế, vũ khí thì vừa ít, vừa thô sơ, làm sao có thể đối đầu và thắng được đế quốc mạnh nhất hành tinh lúc đó? Vậy mà chính đ/c Lê Duẩn, là một trong những người đầu tiên trả lời câu hỏi trên một cách rõ ràng, mạch lạc, được thể hiện trong Đề cương cách mạng miền Nam.

Trước đó, đầu năm 1956, với tư cách Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, đ/c Lê Duẩn đã gửi trực tiếp tới Bác Hồ một bức điện (ký tên là Tam Chi) rằng: “Mỹ - Diệm có chỗ yếu căn bản là độc tài, gia đình trị. Nhân dân miền Nam thực sự căm thù chúng. Ý kiến của chúng tôi là không thể không đánh.

Trong những lúc trò chuyện, đ/c Lê Duẩn thường đưa ra một đúc kết trong quá trình ông đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên rằng: Thứ mạnh nhất mà Mỹ có lúc đó là bom nguyên tử thì Mỹ không thể dùng được, còn thứ mạnh nhất của Việt Nam là chiến tranh nhân dân thì Mỹ không có. Có lần ông còn dùng một hình ảnh rất sinh động: “Người chiến sỹ Việt Nam 18 tuổi nhỏ bé nhưng cao hơn tên lính Mỹ một cái đầu bởi trên lưng anh ta là 4.000 năm lịch sử”…

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhất là khi được giao trọng trách trong Đảng, mặc dù đã có tuổi, tóc đã điểm bạc, nhưng Lê Duẩn vẫn tận dụng tối đa thời gian để đọc sách và nghiên cứu. Trong các chuyến đi thăm và làm việc ở nước ngoài, “món quà” mà ông ưa thích nhất là các sách tiếng Pháp về triết học hoặc các triết gia do các nguyên thủ tặng.

Chuyện còn kể rằng, ngay sau khi được tin B52 xâm nhập vùng trời Hà Nội, đồng chí Lê Duẩn với ánh mắt long lanh khác thường – một ánh mắt không hề biểu lộ một chút sợ hãi, mà chỉ có thể diễn tả được bằng câu “Đây là bước đi cuối cùng của chúng”– đoạn ông yêu cầu thư ký nối máy với cố vấn Lê Đức Thọ rồi với một giọng rất vững chắc, ông nói đại ý: “Anh chuẩn bị lên đường sang Paris ngay. Đây là bước cuối cùng của tụi nó rồi. Chắc chắn nó sớm phải quay trở lại bàn đàm phán!”.

Quả nhiên, chỉ hơn chục ngày sau, Tổng thống Mỹ Johnson phải tuyên bố chấm dứt ném bom vĩnh viễn miền Bắc và quay lại Hội nghị Paris…

Một câu nói mà cố Tổng Bí thư Lê Duẩn rất tâm đắc là câu nói nổi tiếng của B.Na-pô-lê-ông: “On s’engage et on verra” (Hãy cứ làm đi rồi thực tế sẽ hé lộ khả năng làm tiếp).

Ông lý giải: “Trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định không phải chỉ có một khả năng mà luôn luôn có thể có nhiều khả năng tiến lên và sự vật tiến theo khả năng này hay khả năng kia còn tùy thuộc vào ý định của con người… Sự phát triển của lịch sử là kết quả thống nhất biện chứng của những nhân tố khách quan và chủ quan”.

Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Nguyễn Đức Bình đã có một nhận xét rất xác đáng về cố Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Có cảm tưởng anh Ba sinh ra để suy nghĩ, không suy nghĩ dường như anh không chịu nổi”.

Cũng chính bởi sự ham đọc và lối tư duy biện chứng mà đ/c Lê Duẩn luôn luôn “nhìn thấy những cái mà nhiều người khác chưa thấy”. Như đã biết, cuối năm 1952, đ/c Lê Duẩn được Bác Hồ và Trung ương điều động ra Việt Bắc, làm việc bên cạnh Bác Hồ trong suốt 2 năm, cho tới khi Hiệp định Genève được ký kết, thì ông được Bác Hồ cử vào Nam Bộ với tư cách là Trưởng Đoàn đại biểu Chính phủ Trung ương kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Hiệp định.

Đêm chia tay, Bác Hồ mời đ/c Lê Duẩn ngủ lại cùng trên chiếc sạp lát bằng cây bương trên trải một manh chiếu cói. Sáng hôm sau, tập thể dục, ăn sáng xong, Bác Hồ ôm hôn đ/c Lê Duẩn một cách thắm thiết – một biểu lộ đặc biệt thân mật, báo trước một chuyến đi công cán rất quan trọng.

Đoàn của đ/c Lê Duẩn ra đi gồm 15 người trên một chiếc commăngca vào đến Quảng Bình thì không đi ô tô được nữa mà phải đi bộ men theo đường Trường Sơn, có lúc đi bằng xe đạp. Đ/c Lê Duẩn cũng đạp xe như mọi người.

Trong suốt chuyến đi này, đ/c Lê Duẩn đã nghiền ngẫm rất kỹ về mọi tình hình trước và sau khi ký kết Hiệp định Genève. Khi đoàn qua các vùng, được rất nhiều đồng bào, đồng chí ra chào đón, vui mừng giơ 2 ngón tay ý nói chỉ còn 2 năm nữa là nước nhà sẽ thống nhất, bởi theo Hiệp định thì tới tháng 7/1956 là tiến hành Tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Song, với “hai trăm bugi” trong đầu, đ/c Lê Duẩn biết trước rằng kẻ thù không sớm thì muộn sẽ lật lọng. Chính bởi thế, trong khi một số người ảo tưởng vào việc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève, thì đ/c Lê Duẩn đã dự tính đến khả năng đưa cách mạng miền Nam tiến lên bằng con đường bạo lực.

Theo ông Nguyễn Văn Hoành - nguyên Cục phó T78- thì vào đầu năm 1955, trong chuyến tập kết áp chót, “Anh Ba, anh Sáu Thọ, anh Dương Quốc Chính, anh Kỉnh cùng anh em khác đến cửa sông Ông Đốc, có cả Ủy hội Quốc tế và đông đảo bà con từ nhiều nơi đến sông Ông Đốc làm lễ tiễn đưa, người nào nét mặt cũng đượm buồn, một số người khóc.

Anh Ba và các anh cùng đi xuống ca nô Hòa Bình để ra tàu Ba Lan Kilinxki đậu ngoài khơi. Khi tàu chuẩn bị nhổ neo, đúng 12 giờ đêm, anh Cao Đăng Chiếm và anh Văn Viên đưa tàu đò ra đón anh Ba trở vào đất liền.

Trước khi chia tay, anh Ba chúc sức khỏe mọi người và nói với anh Sáu Thọ (Lê Đức Thọ – PV): “Cho tôi gởi lời chúc sức khỏe đến Bác Hồ và các anh ngoài đó, hẹn có thể 18-20 năm nữa mới gặp lại nhau”.

“Lời tiên tri” đó đã trở thành sự thật: Đúng 20 năm sau, trưa ngày 30/4/1975, sau khi xin người bảo vệ một điếu thuốc – vật mà ông đã xa rời từ 30 năm trước, đ/c Lê Duẩn thì thầm: “Bác Hồ ơi, Mạ ơi, điều khó khăn nhất, chúng con đã làm được rồi…”.

------------------------

(Còn nữa)