Liệt sĩ 'con trai chú Sáu Dân' qua hồi ức nhà thơ Thanh Quế

Khi nghe nhà thơ Thanh Quế kể về liệt sĩ Phan Chí Dũng, chúng tôi nghĩ chắc đây cũng là một người bạn văn nghệ của ông như Phan Tứ, Chu Cẩm Phong, Nguyễn Mỹ… Nhưng nghe hết câu chuyện, chúng tôi xúc động và cảm phục, vì đó là một câu chuyện đặc biệt hơn giai thoại về những người bạn văn nghệ.

“Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời”

Ông Thanh Quế mào đầu bằng việc giải thích cho chúng tôi về tên của nhân vật chính trong câu chuyện. “Phan Chí Dũng là tên của một cậu thanh niên ngày ấy trong Chi I đi Nam Bộ. Cậu ấy chính là con trai của chú Sáu Dân. Tôi quen biết cậu ấy một cách tình cờ”.

Rồi ông quay ngược về thời điểm tháng 9/1969. Sau khi tìm ông Phan Triêm - Phó Ban Tổ chức Trung ương để xin đi Nam, một tuần sau chàng học sinh miền Nam vừa tốt nghiệp khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Phan Thanh Quế được chuyển đến trường 105B (Hòa Bình). Đây là trường huấn luyện kĩ năng bắn súng, mang gạch, đi bộ… cho cán bộ đi B. Trường được lợp bằng lá gồi ở vùng rừng núi hẻo lánh của tỉnh Hòa Bình.

Nhà thơ Thanh Quế. Ảnh: Nhật Thanh

“Tôi ở chi II được phân công đi Khu V. Ở đó, tôi quen biết nhiều bạn quen vốn là học sinh miền Nam, vừa tốt nghiệp Đại học Y - Dược liền xin đi về Nam. Hằng ngày, anh chị em hay chỉ cho tôi một cậu thanh niên độ 18 - 19 tuổi, người roi roi, điển trai ở Chi I đi Nam Bộ. Họ bảo với tôi, đấy là con ông to, vì ‘hư’ nên bị bố gọi về Nam để rèn luyện”, nhà thơ Thanh Quế kể tiếp.

“Tôi tiếc vì không giữ được tấm hình nào của Dũng làm kỉ niệm. Nhưng hình ảnh của em, tôi đã chụp bằng mắt. Giọng nói trẻ trung và đầy tâm sự của em, tôi đã ghi âm bằng tai. Đến bây giờ, hình dáng và tiếng nói vẫn còn lưu mãi trong lòng tôi”. Nhà thơ Thanh Quế

Nghe anh em nói vậy, nhà thơ Thanh Quế liền có cảm tình với con ông “quan” ấy.

Làm thơ từ thời còn là học sinh và sớm nổi tiếng ở miền Bắc, thi sĩ Thanh Quế thường được kéo vào các buổi sinh hoạt văn nghệ. Ánh mắt ông sáng lên khi kể về những đêm văn nghệ. Một tối thứ Bảy, trong buổi sinh hoạt, ông lên đọc thơ. Ông đọc bài thơ “Ta sẽ về” để thể hiện nguyện vọng tha thiết được về Nam, với lời dạo đầu là để hưởng ứng bài thơ “Về đi em” của nhà thơ Lê Anh Xuân. Tiếp đó là mấy câu: “Đâu chỉ hôm nay, đâu chỉ hôm qua/ Mà suốt mười năm thương nhớ quê nhà/ Hai tiếng miền Nam như ngọn lửa/ Đốt cháy lòng ta, lòng ta” trong bài thơ “Gửi quê hương” - một bài thơ của Lê Anh Xuân in độc nhất trên báo Tiền Phong năm 1967, không xuất bản.

Kể đến đây, ông hào hứng hơn: “Nhờ bài thơ đó mà cậu thanh niên kia níu tôi lại sau cuộc liên hoan. Cậu bảo với tôi, cậu tên là Phan Chí Dũng, giờ đi Nam nên đổi lại là Võ Dũng cho giống họ của cha cậu đang mang. Chàng thanh niên ấy khen tôi đọc thơ rất tình cảm, lại có quen với nhà thơ Lê Anh Xuân là người Nam bộ, nên cậu muốn kết giao”.

Chuyện của Dũng

Liệt sĩ Phan Chí Dũng, con trai cả của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Ảnh: TL

Từ khi quen nhau, đôi bạn Chí Dũng quê Vĩnh Long và Thanh Quế quê Phú Yên thường ra đồi ngồi nói chuyện chơi, chia đôi niềm tâm sự.

“Lúc này Dũng mới nói mình là con trai chú Sáu Dân. Lúc ấy, tôi cũng không tò mò hỏi xem bố cậu ta đảm nhận chức vụ gì. Chúng tôi cứ chơi với nhau như anh em bình thường”, tác giả “Cát cháy” nhớ lại.

Nhà thơ Thanh Quế kể lại rằng, ông Sáu Dân gửi con trai (Dũng) và em gái ra Bắc, gửi gắm cho người quen chăm sóc. Ai cũng hứa sẽ giúp đỡ, lo lắng hơn con mình. Đến năm 17, 18 tuổi, tình yêu đầu đời chớm nở, Dũng gặp chuyện buồn trong “một lần dang dở”.

Ông suy tư một lát rồi lại kể bằng giọng trầm hơn: “Có lần nó đưa cánh tay cho tôi xem, trên tay nó xăm dòng chữ: ‘Tôi là kẻ bất hạnh’. Tôi nói, cậu mà bất hạnh cái nỗi gì, tớ 24 tuổi đầu còn chưa được cầm tay con gái. Dũng cười bảo, bất hạnh chớ, bất hạnh vì còn nhỏ mà không nên thân, làm ông già phiền lòng”.

Vì Phan Chí Dũng có những hành vi lệch chuẩn, cậu bị các chú “tố” đến ông Sáu Dân. Chuyện đó làm ông rất buồn. Ông viết thư lại cho con trai. Lá thư ấy, cậu đã đưa cho người huynh đệ xem. Thư có đoạn viết: “Từ ngày má con mất, ba rất buồn. Nghe nói con ở ngoài Bắc không ngoan lắm, ba càng buồn hơn. Thôi, con hãy về đây, cha con mình có nhau, để ba có điều kiện giúp đỡ con tiến bộ, trưởng thành, để con sưởi ấm lòng ba”.

Nhà thơ Thanh Quế (thứ 2 từ phải sang) và đồng đội ở chiến trường Khu V. Ảnh: NVCC

Nghe lời, cậu thanh niên tình nguyện về Nam. Ngày đi, các chú ở Ban Tổ chức Trung ương yêu cầu đi máy bay qua Campuchia, rồi cậy giao liên đưa về chỗ ông Sáu Dân. Nhưng cậu thẳng thắn từ chối: “Thưa các chú, con không đi máy bay đâu. Đã đi Nam là phải vượt Trường Sơn. Nhiều chú, bác, anh chị là cán bộ còn trèo đèo lội suối, con mới là học sinh lớp 9 (hệ phổ thông 10 năm - PV), sao con lại đi máy bay?”.

Đến lúc đi, người ta phát cho anh võng dù, tăng vinilông như cán bộ trung, cao cấp. Dũng không nhận và nói: “Tôi chỉ là học sinh, các anh, các chú là cán bộ mà chỉ nhận võng bạt, tăng nilông thì sao tôi lại được ưu tiên thế này được”. Lên đường, anh chỉ nhận tư trang đúng tiêu chuẩn chung, võng kaki và màn vải.

Kể lại chuyện hành quân, nhà thơ Thanh Quế nói bằng sự trân trọng: “Những ngày hành quân, Dũng ở Chi I, tôi ở Chi II nhưng bao giờ Dũng cũng đi chậm lại để cùng đi với tôi. Dạo đó, tôi được phân công vào Khu V làm báo, nên được cấp máy ảnh, thuốc rửa ảnh, giấy ảnh, lại thêm tư trang nên hành lý rất nặng. Dũng nói, anh nhỏ con, lại yếu mà mang nặng, anh nên để em mang giúp gạo, ba lô cho đỡ nhọc”.

Không chỉ lo lắng, giúp đỡ người anh chí cốt, Dũng còn hiểu tính bạn. “Biết tôi nghiện thuốc lá nặng, nên Dũng mang theo thuốc lá để thỉnh thoảng chia cho tôi. Nhưng lạ một điều là gần đến Khu V thì mỗi lần tôi xin, Dũng chỉ cho nhin nhín và bảo là hết thuốc”.

Những khi nghỉ dọc đường, Dũng vẫn đến tìm người anh kết giao trên đường ra trận. Trên đường đi, Dũng có anh bạn đồng hành tên Quốc. Cùng cảm mến Thanh Quế, nên dọc đường ba người thường chơi với nhau.

“Nó rất thương tôi và hay ra mặt bảo vệ tôi. Một lần nghỉ, tôi tìm được khóm lá lốt, hồi đó vật chất thiếu thốn, nên tìm được một bụi lá lốt để ăn thì quý lắm. Đang hái thì Tuấn ở Chi III, đoàn đi Trị - Thiên cũng xông vào hái. Thế rồi tôi và Tuấn cự với nhau”.

Thấy có người đụng độ với anh, Dũng xông tới nạt nộ: “Mày “chơi” với anh hai tao hả mày, coi chừng tao tẩn đó”. Biết Dũng thương mình nhưng bênh mình không đúng, ông can Dũng: “Thôi đi em, anh cũng sai mà”. Hai anh em dắt tay nhau đi về.

Càng đi vào Nam, khi gần tới Khu V, người em càng chăm sóc và mang vác đồ đạc giúp cho Thanh Quế nhiều hơn. Một đêm, chi trưởng báo hôm sau Chi II sẽ rẽ xuống Khu V. “Nghe lệnh, tôi tức tốc chạy sang Chi Nam Bộ tìm gặp và chia tay Dũng và Quốc. Dũng đã cầm tay tôi rất lâu, không nói một câu gì”.

Sáng hôm sau, khi đi đến đường rẽ về Khu V, ông Quế thấy hai người em đang ngồi bên đường, nhác thấy ông, họ reo lên: “Chị em đi trước rồi, bọn em xin phép ở lại để chia tay anh”. Rồi Dũng rút từ trong ba lô hai tút thuốc Tam Đảo bao bạc đưa cho ông và dặn: “Anh cầm đi mà hút, anh ghiền hơn em. Bữa trước, em không cho anh biết em còn để dành thuốc, vì sợ anh đục mãi… hôm nay không còn để tặng anh lúc chia tay…”.

Họ nói xong thì đứng ôm chặt nhau một lúc lâu. Dũng rút từ trong túi áo một mẩu giấy có ghi sẵn: “Liên hệ em qua chú Sáu Dân, hòm thư…”.

“Dũng còn dặn tôi thêm một điều, nếu có làm thơ hay viết báo thì cứ đề tên Thanh Quế, để người ta đọc trên đài hay in trên báo sẽ dễ nhận ra nhau. Khi đi Nam, tôi định đổi bút danh Đông San Vĩ, cái tên ấy là bút danh của tôi khi làm thơ từ hồi còn ở trường Học sinh miền Nam. Nhưng nghe Dũng dặn vậy, nên sau này tôi lấy bút danh Thanh Quế luôn”, nhà thơ Thanh Quế nhớ lại.

Phút chia tay, Dũng bịn rịn: “Thống nhất, anh em mình nhớ tìm nhau nghe. Địa chỉ em đưa rồi đó”.

Lòng kính trọng

Nói đến đây, nhà thơ Thanh Quế trầm giọng. “Suốt những năm tháng kháng chiến, chúng tôi không có dịp liên lạc với nhau. Sau giải phóng, tôi hỏi nhà thơ Diệp Minh Tuyền về thông tin của ông Sáu Dân”. “Mày hỏi chú Sáu Dân làm gì?”, ông Tuyền hỏi. “Tôi có quen với Dũng, con trai chú ấy, nó hẹn liên hệ gặp nó qua ông ấy”.

Khi ấy, nhà thơ Diệp Minh Tuyền mới báo cho Thanh Quế tin buồn: “Dũng vào Nam, xin làm trinh sát ở QK9. Nó dũng cảm lắm, mọi người đều khen. Nó cứ bám đơn vị miết. Ông Lê Đức Anh, Tư lệnh Khu 9 được ai nói đó, biết Dũng là con chú Sáu Dân nên nhắn đơn vị đưa về Quân khu để đỡ tổn thất. Chưa kịp rút thì nó hi sinh rồi, tội nó quá. Tội chú Sáu nữa”.

“Ông Lê Đức Anh muốn rút nó về Quân khu vì không biết nó đi trinh sát theo ý của Bí thư Khu 9 Sáu Dân. Rồi tôi lại hỏi tin thằng Quốc, thì hay tin nó cũng đã hi sinh. Tôi buồn rơi nước mắt. Về sau, tôi có viết lại kỉ niệm này trong bài “Con trai chú Sáu Dân” (Báo Đà Nẵng). Ông Mai Quốc Liên mang đăng lại trên tạp chí Hồn Việt với một tên khác. Trong vài tập sách tôi có ghi lại câu chuyện về Dũng để lưu giữ kỉ niệm”, nhà thơ Thanh Quế chia sẻ.

Nhà thơ Thanh Quế bày tỏ niềm kính trọng với chú Sáu Dân, tức cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: “Tôi muốn nói thêm rằng, người cha có chức vụ cao, có thể can thiệp cho con mình đi học ở nước ngoài để bảo toàn tính mạng giữa một thời kì loạn lạc và sau này có địa vị, tiếng tăm. Nhưng không, ông đã gọi con mình trở lại chiến trường, cho con đi trinh sát, một nhiệm vụ rất cần lòng dũng cảm và dễ hi sinh, để con rèn luyện và trưởng thành”.