TS Nguyễn Như Quỳnh cho biết: Thời gian qua, hiệu quả hoạt động của KTNN còn chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ và yêu cầu phát triển. Nhằm hướng tới mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam là nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao, KTNN cần được phát triển theo tư duy mới, với các giải pháp đột phá.
Bối cảnh quốc tế có nhiều biến động cũng đòi hỏi KTNN phải trở thành lực lượng tiên phong, dẫn dắt đổi mới, đóng vai trò “đầu tàu” trong các ngành, lĩnh vực nền tảng, công nghệ chiến lược.
NHIỀU ÐỘT PHÁ MỚI
Theo ông, điểm mới có tính đột phá lớn nhất của Nghị quyết 79 so với các nghị quyết trước đây về KTNN là gì?
KTNN luôn được khẳng định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thể hiện tại Hiến pháp và các Văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương, từ Đại hội Đảng VIII tới Đại hội XIII. Theo đó, KTNN là nền tảng ổn định vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, dẫn dắt các khu vực kinh tế khác và là yếu tố cốt lõi của nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc ban hành Nghị quyết về phát triển KTNN được kỳ vọng khơi thông các điểm nghẽn để sử dụng và phát huy hiệu quả nguồn lực của nhà nước; tạo lập thể chế và động lực để KTNN phát huy vai trò chủ đạo, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 79 thể hiện niềm tin về sự năng động, hiệu quả của khu vực KTNN.
Với Nghị quyết này, lần đầu tiên nội hàm về KTNN được xác định cụ thể, bao hàm toàn diện hơn các nền tảng vật chất quan trọng của Nhà nước, gồm tổ chức kinh tế và nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối.
Một trong những quan điểm lớn được Nghị quyết nhấn mạnh là yêu cầu nguồn lực của KTNN phải được hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế.
Đồng thời, Nghị quyết số 79 xác định một số nhiệm vụ, giải pháp mang tính đột phá để nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể KTNN và hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực của KTNN.
Điển hình như: Mở rộng chức năng về tham gia điều tiết thị trường của dự trữ quốc gia; Không hình thành mới quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, trừ các trường hợp cấp bách, cấp thiết theo yêu cầu của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Tập trung đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mạnh, có quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế; Tạo cơ sở ban hành cơ chế để doanh nghiệp cổ phần được chủ động hình thành quỹ cổ phiếu thưởng nhằm thu hút, giữ chân người lao động có trình độ cao về chuyên môn, quản lý, có đóng góp lớn cho sự phát triển của doanh nghiệp; thí điểm cơ chế đặc thù về thuê, tuyển dụng, bổ nhiệm giám đốc/tổng giám đốc tại một số DNNN; Thiết lập cơ sở hình thành Quỹ đầu tư quốc gia; Xây dựng cơ chế, chính sách chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập trong những ngành, lĩnh vực phù hợp thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ…
DNNN TẬP TRUNG LĨNH VỰC NÀO?
Nghị quyết đặt mục tiêu đến 2030 có từ 1-3 DNNN lọt top 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Chúng ta làm gì để trợ lực cho các “sếu đầu đàn”?
Nghị quyết xác định giải pháp then chốt đối với dnnn là cần tiếp tục củng cố, phát triển, bảo đảm dnnn thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, trong đó, tập trung đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, DNNN mạnh, có quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế. Những lĩnh vực trọng tâm như: Quốc phòng, an ninh; năng lượng; vận tải, logistics; tài chính - ngân hàng; khoa học - công nghệ, điện tử - viễn thông, hạ tầng số; khai thác, chế biến khoáng sản chiến lược; hoá chất;...
Nghị quyết xác định mục tiêu đến 2030 có từ 1-3 DNNN thuộc top 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Đây là mục tiêu được đánh giá kỹ lưỡng thực trạng các DNNN hiện nay, đồng thời, việc đặt mục tiêu cao để tạo động lực thực thi mạnh mẽ. Để đạt mục tiêu này, nhiều giải pháp đã được thiết kế, từ giải pháp tăng vốn đến các giải pháp về quản trị, cơ cấu lại doanh nghiệp,…
Những giải pháp này là trợ lực cho các DNNN lớn có khả năng tiệm cận với các tiêu chí theo xếp hạng thế giới. Trong đó, quy định về việc cho phép DNNN giữ lại nhiều hơn nguồn lực từ cổ phần hóa, thoái vốn và lợi nhuận sau thuế sẽ được cụ thể hoá trong Chương trình hành động của Chính phủ và được thể chế hoá tại văn bản quy phạm pháp luật.
Theo ông, sẽ có bao nhiêu văn bản cần sửa đổi để thực sự tạo ra hiệu quả mới cho Nghị quyết 79?
Để thực thi Nghị quyết 79, các quan điểm, định hướng và giải pháp cần được thể chế hóa thông qua việc ban hành mới một số văn bản pháp luật và sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan.
Trong quá trình xây dựng Nghị quyết, các bộ, ngành đã có kế hoạch sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật để triển khai kịp thời, hiệu quả và những văn bản pháp luật này sẽ được cụ thể hóa tại Chương trình hành động của Quốc hội và của Chính phủ.
Có thể khẳng định, yêu cầu đặt ra là chất lượng văn bản và lộ trình ban hành cần được chú trọng để bảo đảm hiệu quả, hiệu lực thực thi. Đồng thời, công tác rà soát quy định, chính sách và hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng cần được xác định là hoạt động thường xuyên để kịp thời tháo gỡ khó khăn, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho phát triển KTNN.