Hy vọng mới cho bệnh nhân cần ghép giác mạc

Nhu cầu ghép giác mạc ở Việt Nam rất cao và tăng nhanh theo thời gian, tuy nhiên nguồn giác mạc đến từ hiến tặng chỉ đáp ứng được tỷ lệ rất nhỏ. Vì vậy, theo các chuyên gia, ghép giác mạc sinh học đang là hướng điều trị mới, mở ra hy vọng cho các bệnh nhân chờ ghép giác mạc.

Nhiều bệnh nhân qua đời trước khi được ghép giác mạc

Tại Hội thảo khoa học quốc tế về giác mạc sinh học ngày 4/4, Tiến sĩ Vương Ánh Dương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) chia sẻ, bệnh lý về giác mạc là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa mà có thể điều trị được, khôi phục được thị lực của người bệnh bằng phương pháp can thiệp ghép giác mạc.

Ước tính Việt Nam có tới trên 500.000 người bị mù do bệnh lý giác mạc và có nhu cầu cần ghép giác mạc. Tại Bệnh viện Mắt Trung ương con số chờ ghép cũng lên tới trên ngàn trường hợp.

TS Dương thông tin, trong những năm qua, với sự nỗ lực của Hội nhãn khoa, các bệnh viện, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa mắt, đặc biệt là Bệnh viện Mắt Trung ương đã thành lập được một số ngân hàng giác mạc; vận động hiến tặng giác mạc từ người cho chết não.

“Nhiều tấm gương, hình ảnh vô cùng xúc động, mang tính nhân văn sâu sắc mà chúng ta đã từng chứng kiến khi người thân của gia đình quyết định hiến tạng cho cơ sở y tế, cho phép hiến giác mạc và các bộ phận cơ thể người”, TS Dương chia sẻ.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, thực tiễn điều trị hiện nay đặt ra những thách thức rất lớn. Nhu cầu ghép giác mạc ngày càng tăng, trong khi nguồn giác mạc hiến tặng còn rất hạn chế so với nhu cầu. Nhiều người bệnh phải chờ đợi kéo dài, thậm chí mất cơ hội điều trị.

Bên cạnh đó, không ít trường hợp bệnh lý nặng như bỏng mắt, tổn thương bề mặt nhãn cầu phức tạp hoặc thất bại ghép nhiều lần khiến phương pháp ghép truyền thống không còn là giải pháp tối ưu.

Chính vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp thay thế đang trở thành xu hướng tất yếu của nhãn khoa hiện đại.

“Trên thế giới, nhiều hướng tiếp cận mới đã và đang được nghiên cứu, ứng dụng như giác mạc nhân tạo, vật liệu sinh học... Những tiến bộ này mở ra hy vọng mới cho nhóm bệnh nhân trước đây gần như không còn lựa chọn điều trị hiệu quả, giúp chủ động nguồn vật liệu thay thế, nâng cao khả năng tiếp cận điều trị cho người bệnh”, TS Dương nói.

Theo PGS. TS Lê Xuân Cung, Khoa Giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung Ương, nhu cầu ghép giác mạc tại Viện là rất lớn nhưng nguồn giác mạc hiến tặng hiện nay chỉ đáp ứng được nhu cầu rất nhỏ. Năm 2025, bệnh viện nhận được giác mạc từ 94 người hiến, trong đó 4 trường hợp không sử dụng được. Con số này quá thấp so với nhu cầu thực tế .

PGS. TS Lê Xuân Cung, Khoa Giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung Ương chia sẻ tại Hội thảo.

PGS.TS Lê Xuân Cung chia sẻ thực tế, có những bệnh nhân chờ đợi quá lâu, khi bệnh viện liên hệ lại để thực hiện ghép giác mạc thì đã qua đời.

Ông cho rằng thời gian tới cần tăng nguồn thu nhận giác mạc từ người hiến trong nước thông qua các giải pháp như truyền thông, xây dựng mạng lưới thu nhận và bảo quản giác mạc trong nước để có thể thu nhận ngày càng nhiều giác mạc có chất lượng tốt.

Bên cạnh đó là nhập giác mạc từ ngân hàng mắt nước ngoài, đồng thời có nguồn giác mạc sẵn để có thể thực hiện phẫu thuật ghép giác mạc ngay khi cần thiết như giác mạc sinh học, giác mạc bảo quản lâu dài.

Hướng đi mới

Theo GS.TS Tôn Thị Kim Thanh, Chủ tịch Hội Nhãn khoa Việt Nam, giác mạc sinh học là một phát minh mới, đồng thời là một loại vật liệu y sinh tiên tiến, góp phần mở rộng đáng kể các lựa chọn vật liệu thay thế trong điều trị bệnh lý giác mạc.

Việc phát triển và ứng dụng loại vật liệu này không chỉ mang ý nghĩa về mặt công nghệ, mà còn giúp từng bước chủ động hơn trong việc thay thế giác mạc người trong thực tiễn lâm sàng, đặc biệt trong bối cảnh nguồn giác mạc hiến tặng hiện vẫn còn nhiều hạn chế.

GS Thanh cũng đề nghị, để một công nghệ như vậy có thể triển khai hiệu quả, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở bản thân công nghệ, mà còn ở năng lực tổ chức hệ thống triển khai.

“Trong đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bệnh viện mắt, các chuyên gia giác mạc và các đơn vị nghiên cứu đóng vai trò then chốt. Việc hình thành một mạng lưới chuyên môn đồng bộ sẽ giúp rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng lâm sàng, đồng thời bảo đảm tính an toàn và hiệu quả cho người bệnh”, GS Thanh kiến nghị.

Giác mạc sinh học có thể mở ra hy vọng mới cho các bệnh nhân chờ ghép giác mạc.

Theo GS.TS Trần Lê Bảo Hà, Đại diện Hội đồng khoa học Công ty Gen và tế bào gốc Việt Nam (VGCT), việc đầu tư cho thị lực mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội. Theo tính toán, với mỗi 1 USD đầu tư cho cải thiện thị lực sẽ tạo ra 28 USD giá trị kinh tế.

Cũng theo đại diện VGCT, với số lượng bệnh nhân ước tính lên tới 500 nghìn người tại Việt Nam hiện nay, nếu được khôi phục thị lực sẽ trực tiếp đóng góp 0,3-0,4% vào tăng trưởng GDP mỗi năm.

GS Hà cũng cho rằng, việc một người mù có thể nhìn lại ánh sáng không chỉ là thành tựu y học, mà còn là sự phục hồi toàn diện về năng lực sống và năng lực lao động, kể cả giảm bớt gánh nặng (người chăm sóc người mù) cho gia đình.

Ở quy mô xã hội, điều này góp phần nâng cao chất lượng sống, gia tăng chỉ số hạnh phúc của người dân, đồng thời tạo ra giá trị kinh tế khi một bộ phận người mất thị lực được quay trở lại lực lượng lao động.