Ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ NN&MT:
Luật Tài nguyên nước với 10 chương, 86 điều đã thể chế hóa các định hướng lớn về quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên nước, thông qua 4 nhóm chính sách gồm: Bảo đảm an ninh nguồn nước, Xã hội hóa ngành nước, Kinh tế tài nguyên nước và Bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống tác hại do nước gây ra.
Nguyên tắc cốt lõi được xác định là tài nguyên nước phải được quản lý tổng hợp, trong đó bảo đảm an ninh nguồn nước cho sinh hoạt là ưu tiên hàng đầu. Việc phân bổ nguồn nước phải gắn với quy hoạch tổng thể, đảm bảo điều hòa, phân phối tài nguyên nước hợp lý giữa các ngành, vùng.
Một điểm nhấn quan trọng là chuyển đổi phương thức quản lý, chuyển dần từ quản lý bằng công cụ hành chính sang quản lý bằng công cụ kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và huy động nguồn lực xã hội. Đồng thời, định hướng hiện đại hóa được đặt ra với yêu cầu quản trị tài nguyên nước quốc gia trên nền tảng công nghệ số.
Hệ thống chính sách cũng quy định rõ các nội dung then chốt như duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông, kiểm soát ngưỡng khai thác nước dưới đất, phân vùng chức năng nguồn nước, cũng như các giải pháp phòng chống sạt lở, lũ lụt. Việc phục hồi các dòng sông, thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước và kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng nước được xác định là nền tảng cho phát triển bền vững.
Ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ NN&MT:
Nguồn nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc từ nước ngoài và phân bố không đều theo không gian và thời gian. Thực trạng này thể hiện rõ nét tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - lưu vực sông liên quốc gia. Tổng lượng nước trung bình năm của lưu vực sông Cửu Long khoảng 488 tỷ m³, trong đó nước mặt chiếm 97%, nước dưới đất chiếm 3%. Tuy nhiên, vào mùa khô, lượng nước bình quân đầu người chỉ khoảng 2.200 m³/người, cho thấy nguy cơ thiếu nước ngày càng hiện hữu.
Dòng chảy từ thượng nguồn về ĐBSCL có xu hướng suy giảm rõ rệt, giảm so với mức trung bình nhiều năm khoảng 13%, riêng mùa khô 2015-2016 giảm 36%, giai đoạn 20190-2020 giảm 28%. Trong khi đó, thủy triều có xu thế gia tăng, trung bình tăng khoảng 12 cm trong 25 năm, kéo theo triều cường tăng thêm 20-25 cm. Xâm nhập mặn vì thế có xu hướng đến sớm hơn và mạnh hơn, với ranh mặn 4‰ xâm nhập sâu 70-85 km trên sông Tiền, sông Hậu.
Áp lực từ phát triển kinh tế - xã hội ngày càng gia tăng. Tổng lượng nước khai thác toàn vùng đạt khoảng 32,25 tỷ m³/năm, trong đó “nước cho nông nghiệp và thủy sản là 31,54 tỷ m³/năm”, còn sinh hoạt 0,57 tỷ m³/năm, công nghiệp 0,13 tỷ m³/năm. Song song, gia tăng hoạt động xả nước thải, nhất là nước thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn đang gây sức ép nghiêm trọng đến chất lượng nguồn nước.
ĐBSCL phụ thuộc mạnh vào nguồn nước từ sông Mekong, chiếm 95% tổng lượng nước của ĐBSCL. Trong khi đó, thượng nguồn đã hình thành và vận hành 12 công trình thủy điện, khu vực Lào, Campuchia có 11 dự án trên dòng chính, Thái Lan triển khai các dự án chuyển nước với quy mô khoảng 6,2 tỷ m³/năm, cùng với 6,5 tỷ m³/năm từ dòng chính và 2,5 tỷ m³/năm từ dòng nhánh.
Mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng nước gia tăng trở thành thách thức lớn. Chỉ số an ninh nguồn nước quốc gia hiện mới đạt 2/5, trong khi quản trị tài nguyên nước chưa dựa trên nền tảng công nghệ số và đầu tư còn hạn chế.
PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam:
Theo số liệu tại trạm Tân Châu giai đoạn 1990-2025 cho thấy xu thế lũ trên sông Mekong đang giảm rõ rệt. Từ sau năm 2012 đến nay, hầu như không còn xuất hiện lũ lớn vượt báo động 3, thay vào đó là chuỗi năm lũ nhỏ kéo dài. Nếu trước năm 2011, khoảng 4-5 năm lại có một trận lũ vừa hoặc lớn, thì hiện nay xu thế chủ đạo là lũ thấp, và trong 30-50 năm tới, khả năng xuất hiện lũ lớn sẽ rất hiếm, trong khi lũ nhỏ và rất thấp gia tăng.
Cùng với đó, xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến sớm và gay gắt hơn so với trước năm 2013. Mặn hiện xuất hiện từ giữa tháng 12 đến tháng 1, sớm hơn 1-1,5 tháng; đỉnh mặn cũng đến sớm hơn, rơi vào tháng 2-3 thay vì tháng 3-4 như trước đây. Đáng chú ý, dòng chảy mùa khô về đồng bằng có xu hướng tăng nhưng vẫn không đủ để ngăn chặn đà xâm nhập mặn ngày càng sâu.
Theo các kịch bản dự báo, ranh mặn tiếp tục lấn sâu vào nội đồng. Trên sông Tiền, độ mặn 4g/l có thể vào sâu khoảng 52 km (năm 2020), tăng lên 55,5 km vào năm 2030 và khoảng 62,5 km vào năm 2050. Bình quân, ranh mặn sẽ tăng thêm khoảng 3,3 km vào năm 2030 và 6,7 km vào năm 2050.
Trước thực trạng này, cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, coi nước mặn, nước lợ và nước ngọt đều là tài nguyên. Quản lý nước phải chuyển từ đơn lẻ theo công trình sang liên vùng, liên tỉnh, hướng đến quản trị hiện đại. Các giải pháp trọng tâm gồm nâng cao năng lực dự báo, vận hành liên thông hệ thống thủy lợi, tổ chức sản xuất linh hoạt theo điều kiện nguồn nước, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý.
Về công trình, cần tiếp tục đầu tư các dự án kiểm soát mặn, xây dựng hệ thống kiểm soát tại các sông lớn, nâng cấp đê biển và phát triển các công trình chuyển nước, kết nối nguồn nước giữa các vùng. Đồng thời, chú trọng các giải pháp trữ nước quy mô lớn trong hệ thống kênh rạch và quy mô nhỏ tại hộ dân như ao, mương, ruộng nhằm chủ động ứng phó hạn mặn.
ĐBSCL vẫn là vùng nông nghiệp trọng điểm, nhưng đang chịu tác động ngày càng nghiêm trọng từ phát triển thượng nguồn, biến đổi khí hậu và sụt lún đất. Vì vậy, định hướng phát triển phải theo hướng thích nghi có kiểm soát, chủ động điều tiết nguồn nước để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo phát triển bền vững.
PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi miền Nam:
Trong những năm gần đây, tình trạng xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân. Đặc điểm nguồn nước của lưu vực sông Mê Kông cho thấy đây là một hệ thống có tính biến động theo năm khá lớn, với sự phân hóa rõ rệt giữa mùa lũ và mùa kiệt, mặc dù tổng lượng dòng chảy dài hạn không biến động nhiều. Dung tích hữu ích của toàn lưu vực dao động trong khoảng từ 65-73 tỷ m³.
Đối với ĐBSCL, nguồn nước mặt chủ yếu phụ thuộc vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông, chiếm tới 95%, trong khi nguồn nội sinh chỉ đóng góp khoảng 5%, tương đương 22 tỷ m³ và chủ yếu tập trung vào mùa mưa. Điều này cho thấy sự phụ thuộc rất lớn của đồng bằng vào các yếu tố ngoại sinh, đặc biệt là hoạt động khai thác và điều tiết nước ở thượng nguồn.
Trong giai đoạn từ năm 2001-2025, dung tích trữ nước đã có sự thay đổi đáng kể, từ khoảng 15 tỷ m³ lên 65-73 tỷ m³, và theo quy hoạch có thể đạt tới 110,4 tỷ m³. Tuy nhiên, song song với đó là sự gia tăng diện tích sản xuất nông nghiệp trong toàn lưu vực. Dự báo đến năm 2040, tổng diện tích này có thể tăng thêm 16%, đạt gần 6,7 triệu ha. Riêng tại Campuchia và Lào, diện tích nông nghiệp cũng gia tăng đáng kể, gây áp lực lớn lên nguồn nước.
Ông Nguyễn Hoàng Anh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ:
Đồng bằng sông Cửu Long những năm gần đây, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt vào mùa khô diễn ra ngày càng thường xuyên, đặc biệt tại các khu vực ven biển và cửa sông. Thành phố Cần Thơ - trung tâm của vùng, mặc dù có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc và nguồn nước tương đối dồi dào, nhưng đang chịu tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng như ngập úng do triều cường, hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt vào mùa khô diễn ra ngày càng phổ biến.
Tình trạng sạt lở bờ sông, sụt lún đất cũng gia tăng, trong bối cảnh nhu cầu khai thác và sử dụng nước ngày càng lớn. Những thách thức này đang tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội bền vững của thành phố và toàn vùng, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải quản lý và sử dụng tài nguyên nước một cách hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.
Trước thực tế đó, thành phố Cần Thơ đã và đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, đồng thời góp phần giảm sụt lún đất. Trong quy hoạch phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, thành phố xác định nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước là nhiệm vụ trọng tâm.
Thành phố tập trung phát triển các công trình trữ nước ngọt phục vụ mùa khô; ưu tiên sử dụng nước mặt, giảm dần khai thác nước ngầm nhằm hạn chế sụt lún, sạt lở, đồng thời tăng cường phục hồi, bảo vệ các nguồn nước bị suy thoái, ô nhiễm. Bên cạnh đó, thành phố xác định biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và nước biển dâng là xu thế tất yếu, do đó cần chủ động thích ứng từ sớm, từ xa với tầm nhìn dài hạn để phát triển bền vững.
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, trong đó ĐBSCL là một trong những khu vực chịu tác động lớn nhất trên thế giới. Bên cạnh đó, các hoạt động khai thác, điều tiết nước ở thượng nguồn sông Mekong cũng đang ảnh hưởng đáng kể đến dòng chảy và nguồn nước của khu vực.
Những thách thức này đòi hỏi phải có cách tiếp cận tổng thể, liên vùng, liên quốc gia, với sự chung tay của các cấp, các ngành, cộng đồng và người dân trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước một cách hiệu quả và bền vững.
Ông Louis Lim - Giám đốc điều hành, Khối Bất động sản, Tập đoàn Keppel:
Thay mặt Tập đoàn Keppel, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Cục Quản lý Tài nguyên Nước thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Báo Tiền Phong, UBND TP. Cần Thơ và các đơn vị đồng hành đã phối hợp tổ chức hội thảo hôm nay với chủ đề An ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu. Chúng tôi trân trọng cơ hội được cùng chia sẻ và thảo luận về một vấn đề mang tính sống còn đối với tương lai của khu vực.
Keppel là doanh nghiệp điều hành và quản lý tài sản trên toàn cầu có trụ sở tại Singapore, hoạt động ở hơn 20 quốc gia, cung cấp các giải pháp về năng lượng sạch và tái tạo, giảm phát thải carbon, tái tạo đô thị bền vững và kết nối số.
Trong 35 năm có mặt tại Việt Nam, Keppel không chỉ hiện diện qua các hoạt động kinh doanh mà còn thông qua nhiều chương trình vì cộng đồng. Từ năm 2021, Keppel Việt Nam đã đóng góp hơn 17 tỷ đồng cho các hoạt động về giáo dục, bảo vệ môi trường, và hỗ trợ cộng đồng khó khăn.
Trong lĩnh vực giáo dục, thông qua Bytes for Future - Cỗ máy tri thức, chương trình giúp trang bị kỹ năng số cho thế hệ trẻ, Keppel đã trao tặng 140 máy tính, đồng hành hơn 2.000 học sinh. Keppel cũng đã tài trợ 90 suất học bổng tại chương trình Nâng bước thủ khoa do Báo Tiền Phong tổ chức. Ngoài ra, Keppel còn có thư viện lưu động Words on Wheels - Bánh xe tri thức, mang đến sách, tài liệu học tập và Internet cho gần 38.000 học sinh của 32 trường tại Hà Nội và TPHCM.
Về bảo vệ môi trường, năm 2025, các tình nguyện viên Keppel đã trồng 1.000 cây xanh tại Khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu, tiếp nối nỗ lực trồng 3.000 cây tại Khu bảo tồn thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai vào năm 2022.
Để hỗ trợ cộng đồng kém may mắn, chương trình Grant A Wish - Trao tặng ước mơ, của chúng tôi - với sự chung tay của khách thuê, khách tham quan Saigon Centre và nhân viên Keppel - đã mang đến một mùa Giáng sinh ý nghĩa cho trẻ em kém may mắn. Ngoài ra, các đợt hiến máu thường niên từ năm 2019 của doanh nghiệp cũng đã tiếp nhận hơn 2.300 đơn vị máu, góp phần mang lại hy vọng cho khoảng 6.900 bệnh nhân.
Bên cạnh đó, Keppel cũng triển khai chương trình Living Well nhằm mang đến nước sạch cho người dân chịu ảnh hưởng bởi hạn mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long. Chúng tôi sẽ chia sẻ thêm chi tiết trong phần trình bày tiếp theo.
Keppel nhận thấy rằng giải quyết các thách thức về nguồn nước không chỉ là bài toán về mặt kỹ thuật, công nghệ mà còn đòi hỏi nỗ lực đối thoại, chia sẻ kiến thức và nâng cao nhận thức cộng đồng. Đây cũng là lý do Keppel đồng hành cùng UBND TP. Cần Thơ và Báo Tiền Phong tổ chức hội thảo hôm nay.
Chúng tôi hy vọng sự kiện sẽ tạo ra diễn đàn hợp tác giữa các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia và doanh nghiệp, góp phần xây dựng một ĐBSCL kiên cường hơn trước biến đổi khí hậu, đồng thời đồng hành cùng Việt Nam trên hành trình hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong:
Một nghịch lý đang hiện hữu ngay tại vùng đất trù phú bậc nhất cả nước - ĐBSCL: Giữa mạng lưới sông ngòi dày đặc vùng sông nước, người dân lại đang thiếu nước ngọt để sinh hoạt và sản xuất.
Những can nước phải chắt chiu trong mùa khô, những cánh đồng mới đầu mùa khô đã nứt nẻ, những vườn cây héo úa không còn là hình ảnh cá biệt, mà đang trở thành thực tế lặp đi lặp lại trong nhiều năm qua tại vùng đất này. Đó không chỉ là câu chuyện của thiên nhiên. Đó là lời cảnh báo về an ninh nguồn nước, một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững của ĐBSCL hôm nay và trong tương lai.
Những năm gần đây, ĐBSCL đang phải đối diện với những biến động chưa từng có. Nguồn nước mặt ngày càng phụ thuộc vào dòng chảy thượng nguồn. Trong khi đó, nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức, dẫn đến suy giảm trữ lượng và sụt lún đất. Vấn đề xâm nhập mặn không còn theo quy luật cũ mà ngày càng tiến sâu, kéo dài và khó dự báo.
Có những nơi, nước mặn đã vào tới từng con kênh nội đồng. Có những thời điểm, ngay cả nước sinh hoạt cũng bị ảnh hưởng. Người dân phải nhờ vào từng chuyến sà lan chở nước về để sử dụng. Không chỉ vậy, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cùng với sự suy giảm phù sa đang làm thay đổi cấu trúc tự nhiên của cả vùng. Đồng bằng không chỉ thiếu nước, mà còn đang mất đi những điều kiện nền tảng để tự phục hồi. Tất cả những yếu tố đó đã tác động trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu người dân, đến sản xuất nông nghiệp, đến môi trường và cả cấu trúc kinh tế - xã hội của vùng.
Trước những thách thức đó, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến nhấn mạnh yêu cầu buộc phải đặt ra những câu hỏi rất thẳng thắn:
Chúng ta sẽ tiếp tục thích ứng ra sao? Chúng ta sẽ đầu tư theo cách dàn trải hay tiếp cận theo tư duy tổng thể, liên kết vùng? Và quan trọng hơn, chúng ta sẽ hành động đến đâu trước những biến đổi đang diễn ra từng ngày?
Chính từ những câu hỏi đó, Báo Tiền Phong phối hợp với UBND thành phố Cần Thơ, cùng sự đồng hành của các cơ quan bộ ngành, các tổ chức và doanh nghiệp, tổ chức hội thảo An ninh nguồn nước đồng bằng sông cửu long trước thách thức biến đổi khí hậu.
Hội thảo không chỉ nhằm đánh giá thực trạng, mà còn hướng tới mục tiêu cao hơn, đó là tạo ra một diễn đàn kết nối, nơi các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân cùng ngồi lại để tìm lời giải cho bài toán an ninh nguồn nước của cả vùng. Với vai trò là cơ quan báo chí, Báo Tiền Phong không chỉ phản ánh thực trạng mà còn mong muốn góp phần thúc đẩy đối thoại chính sách, lan tỏa nhận thức xã hội và kết nối các nguồn lực cho phát triển bền vững.
Hội thảo sẽ cùng trao đổi, thảo luận xoay quanh những nội dung rất cốt lõi như: Nhận diện đầy đủ các nguy cơ, từ suy giảm nguồn nước, xâm nhập mặn, sụt lún đất đến những tác động sâu rộng đến sinh kế và môi trường. Phân tích những điểm nghẽn trong quản trị tài nguyên nước, từ cơ chế điều phối liên vùng, quy hoạch, đến chính sách và nguồn lực. Và đặc biệt, đề xuất các giải pháp không chỉ ở tầm vĩ mô, mà cả những giải pháp cụ thể, khả thi, gắn với thực tiễn đời sống người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hội thảo hôm nay diễn ra trong bối cảnh rất đặc biệt, đúng dịp Ngày Nước Thế giới 22/3, một sự trùng hợp không phải ngẫu nhiên, mà là một lời nhắc nhở rất rõ ràng: Nước không chỉ là tài nguyên mà là tương lai. An ninh nguồn nước không chỉ là câu chuyện của hôm nay, mà là cam kết với các thế hệ mai sau. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách tiếp cận, từ bị động sang chủ động, từ đơn lẻ sang liên kết, từ ngắn hạn sang dài hạn. Và hơn hết, cần một tinh thần chung, đó là coi an ninh nguồn nước là nền tảng của an ninh phát triển”, ông Nguyễn Ngọc Tiến nhấn mạnh.
Hội thảo có sự tham dự, cho ý kiến của các đại biểu, khách mời gồm:
- Ông Vũ Viết Hưng - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thuỷ lợi, Bộ NN&MT.
- Ông Nguyễn Minh Khuyến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ NN&MT.
- PGS. TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam.
- Ông Nguyễn Hoàng Anh - Phó Giám đốc Sở NN&MT TP. Cần Thơ.
- Ông Văn Hữu Huệ - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Phạm Văn Mười - Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Cà Mau.
- Ông Nguyễn Văn Bền - Phó GĐ Sở Tài chính TP. Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Minh Tuấn - Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL TP. Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Đăng Khoa - Phó GĐ Sở Xây dựng TP. Cần Thơ.
- NGƯT-PGS-TS. Đào Duy Huân - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ.
- PGS.TS Lê Anh Tuấn - Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường - Đại học Cần Thơ, Cố vấn Khoa học Viện Mekong.
- Ông Louis Lim - Giám Đốc Điều Hành Khối Bất Động Sản, Tập đoàn Keppel.
- Ông Joseph Low - Chủ tịch Keppel Việt Nam.
Cùng đại diện các sở, ngành, chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực tài nguyên nước, đại diện các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, kinh doanh trên địa bàn ĐBSCL.
Nhiều năm qua, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa, vựa trái cây, thủy sản của cả nước, giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước và xuất khẩu. Dù vậy, những năm gần đây, dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, các công trình thủy lợi phía thượng đã tác động tiêu cực tới nguồn nước ngọt về khu vực ĐBSCL. Thực trạng mùa lũ nước về tràn đồng ngày càng ít, trong khi mùa khô lại xảy ra hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở ngày càng nghiêm trọng.
Dù được gọi bằng vùng sông nước, nhưng vào mùa khô, xâm nhập mặn tiến sâu vào các sông bình quân từ 50-60km, gây ra tình trạng thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất tại nhiều khu vực, đặc biệt khu vực cửa sông, ven biển. Kèm theo đó còn các tác động tiêu cực như sụt lún, sạt lở đất, hay tình trạng ô nhiễm nguồn nước gây những tác động dài hạn tới sự phát triển bền vững của vùng.
Theo ghi nhận của PV Tiền Phong, mùa khô năm nay tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn ít nghiêm trọng hơn các năm trước, nhưng nhiều vùng ven biển, cửa sông của Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau vẫn thiếu nước ngọt cho sinh hoạt, sản xuất. Để chủ động phần nào nguồn nước ngọt, người dân phải đầu tư không ít tiền của để đào giếng, đắp ao trữ nước...
Trước thực tế trên, nhân Ngày nước thế giới (22/3), Báo Tiền Phong cùng UBND TP. Cần Thơ và đơn vị đồng hành - Tập đoàn Keppel tổ chức Hội thảo An ninh nguồn nước ĐBSCL trước biến đổi khí hậu.
Trước khi hội thảo diễn ra, lãnh đạo, ban tổ chức cùng các đại biểu đã tham quan khu triển lãm Living Well - sáng kiến do Keppel phối hợp với Báo Tiền Phong triển khai nhằm hỗ trợ người dân Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với hạn mặn.
Tại đây, các đại biểu được giới thiệu hành trình từ năm 2022 đến nay, khi chương trình đã triển khai tại 11 phường, xã thuộc 7 tỉnh, thành, cung cấp nước sạch cho gần 157.000 người, tương đương hơn 20 triệu lít mỗi năm.
Triển lãm trưng bày nhiều hình ảnh thực tế từ Bến Tre, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng… ghi lại khoảnh khắc người dân, học sinh tiếp cận nguồn nước sạch và nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường. Đáng chú ý, hệ thống lọc nước tích hợp năng lượng mặt trời giúp đảm bảo vận hành ổn định trong mùa khô.
Tại khu trưng bày, đại biểu trực tiếp quan sát mẫu nước trước và sau khi xử lý, cùng các thông tin về tình trạng xâm nhập mặn, điều kiện tự nhiên và sinh kế địa phương. Hoạt động giúp làm rõ hơn ý nghĩa thực tiễn của giải pháp Living Well đối với đời sống người dân vùng ĐBSCL.