Google News

Để kinh tế Nhà nước dẫn dắt, mở đường: Trao quyền cần đi kèm 'phanh' tốt

TP - Một trong những tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 79 là trao quyền mạnh hơn cho doanh nghiệp nhà nước, tuy vậy, điều các doanh nghiệp kỳ vọng không chỉ là “nới tay lái”, mà cần một “chiếc phanh” kỷ luật thị trường minh bạch, rõ ràng để doanh nghiệp thực sự phát huy giá trị.

Hồi sinh mạnh mẽ

Những tín hiệu phục hồi trong thời gian gần đây của một số tập đoàn lớn, doanh nghiệp nhà nước từng rơi vào cảnh làm ăn thua lỗ cho thấy trao quyền nhiều hơn cho doanh nghiệp là hướng đi đúng. Tập đoàn Hoá chất Việt Nam (Vinachem) từng có giai đoạn “ngụp lặn” trong vòng xoáy dự án thua lỗ kéo dài; nhiều nhà máy đầu tư nghìn tỷ như Đạm Hà Bắc, Đạm Ninh Bình vận hành kém hiệu quả, chi phí đội lên, tranh chấp hợp đồng dai dẳng, dòng tiền bị bào mòn qua từng năm.

4.jpg
Doanh nghiệp nhà nước trong các ngành nền tảng đang đứng trước yêu cầu chuyển từ “giữ vai trò” sang “tạo động lực” cho tăng trưởng

Nhớ lại giai đoạn xử lý các dự án yếu kém, Chủ tịch HĐTV Vinachem Phùng Quang Hiệp cho rằng, đó là thời điểm “thăng trầm, mịt mù” nhất của tập đoàn. Khi xây dựng đề án xử lý các dự án thua lỗ, ban lãnh đạo phải cam kết đi từng bước, chấp nhận áp lực rất lớn, với niềm tin có thể gỡ từng nút thắt. Khi đề án tái cơ cấu được thông qua với nhiều quyết sách mạnh dạn, nhiều nhà máy đã vận hành tốt hơn, từng bước làm chủ công nghệ và có lãi trở lại trong thời gian gần đây.

“Trao quyền không đồng nghĩa với buông lỏng kiểm soát. Ngược lại, giám sát cần chuyển từ cách tiếp cận hành chính sang giám sát theo chuẩn thị trường, dựa trên mục tiêu, kết quả đầu ra, hiệu quả sử dụng vốn và quản trị rủi ro. Khi cơ chế giám sát minh bạch, nhất quán, quyền tự chủ của doanh nghiệp mới thực sự phát huy giá trị”. Lãnh đạo Vnsteel chia sẻ

Những dự án từng “đắp chiếu” nhiều năm như dự án khai thác - chế biến muối mỏ tại Lào với khối chi phí dở dang lên tới hơn 3.000 tỷ đồng đã được Vinachem quyết định dừng triển khai, rà soát lại hợp đồng, đánh giá lại vật tư, thiết bị để tìm phương án xử lý, thay vì tiếp tục “ôm” một dự án không còn cửa đi. Hay như Nhà máy lân Thanh Hóa, nơi từng vướng tranh chấp đất đai và hợp đồng thuê, tập đoàn không để nhà máy nằm im chờ phán quyết, mà chuyển hướng tìm mặt bằng mới để di dời, tái khởi động dự án. Giữa năm 2025, các thủ tục thuê đất tại Khu công nghiệp Bỉm Sơn đã được xúc tiến để chuẩn bị cho phương án triển khai nhà máy mới, cho thấy doanh nghiệp dám “cắt quá khứ” để giữ cơ hội sản xuất trong tương lai.

Nhờ được trao quyền đủ rộng để mạnh dạn ra quyết định ấy, trong mấy năm qua tình hình kinh doanh của Vinachem đã được cải thiện đáng kể. Năm 2025, doanh thu của Vinachem đạt 64.363 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, và là mức cao nhất trong lịch sử tập đoàn. Lợi nhuận tập đoàn đạt 3.859 tỷ đồng, tăng 73% so với cùng kỳ, đặc biệt đến giữa năm ngoái, công ty mẹ - Vinachem đã chính thức xóa hết lỗ lũy kế, về đích sớm 6 tháng so với kế hoạch và hoàn thành vượt các chỉ tiêu sản xuất - kinh doanh 5 năm giai đoạn 2021-2025 theo quyết định của Thủ tướng. Nhiều dự án từng bị xem là “cục máu đông” đã quay lại vận hành ổn định.

Những con số này cho thấy: nếu có quyết tâm quản trị và không gian tự chủ đủ rộng, doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn có thể “đứng dậy” sau cú ngã rất đau.

Tuy vậy, “cơ thể” của Vinachem vẫn còn những khối u chưa thể bỏ qua, như gánh quy mô nợ lớn; tồn kho và các khoản phải thu ở mức cao chi phí lãi vay mỗi năm vẫn là khoản đáng kể, tạo áp lực lên hiệu quả dài hạn. Những “dư chấn” này khiến công tác quản trị của tập đoàn luôn trong trạng thái phòng ngừa rủi ro, nhất là khi chu kỳ thị trường có thể đảo chiều.

3.jpg
Dự án Đạm Ninh Bình thoát lỗ và hoạt động có lãi trở lại trong thời gian gần đây

Bài học từ thiếu “phanh” sớm

Bức tranh của Tổng công ty Thép Việt Nam (Vnsteel) cho thấy kỷ luật thị trường là vấn đề sống còn của từng dự án, từng đồng vốn Nhà nước. Là doanh nghiệp nhà nước có mạng lưới công ty con, công ty liên kết rất rộng từ khai thác quặng, luyện phôi, đến cán thép, phân phối vật liệu xây dựng, Vnsteel có độ phủ thị trường lớn. Tuy vậy, cú lao đao từ những khoản đầu tư lớn, đặc biệt là dự án mở rộng Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 - “cục xương” kéo dài nhiều năm với vốn đội lên, tranh chấp hợp đồng, tài sản bị “đóng băng” đã buộc Vnsteel chật vật suốt một thời gian dài.

Sau những bài học đắt đỏ ấy, trong giai đoạn tái cơ cấu vừa qua, Vnsteel bắt đầu xếp lại “bản đồ đầu tư”: phân loại các dự án và công ty thành viên theo hiệu quả vận hành, mức độ tạo dòng tiền và triển vọng thị trường, từ đó chia rõ nhóm cần giữ để nuôi dòng tiền, nhóm phải tái cơ cấu; nhóm tính đường thoái vốn. Cách làm này cho phép doanh nghiệp đối diện sự thật: không phải mảnh ghép nào trong “hệ sinh thái rộng” cũng đáng giữ bằng mọi giá.

Song song với đó, Vnsteel cũng thúc đẩy đổi mới quản lý theo hướng tinh gọn đầu mối, siết kỷ luật điều hành, chuẩn hóa quy trình ra quyết định và nâng chuẩn giám sát hiệu quả tại doanh nghiệp thành viên. Mục tiêu không chỉ để từng công ty con làm ăn sáng sủa hơn, mà còn để giảm rủi ro sở hữu chéo, chặn tình trạng đơn vị yếu kém tồn tại dai dẳng vì vướng cơ chế, đồng thời tạo áp lực trách nhiệm rõ ràng hơn cho đội ngũ quản lý.

Những chuyển động về quản trị bắt đầu phản ánh vào kết quả kinh doanh, Vnsteel dần thoát lỗ và bắt đầu có lãi. Đặc biệt, năm 2025 trở thành một dấu mốc trong hành trình phát triển khi sản lượng tiêu thụ thép thành phẩm đạt trên 4 triệu tấn, cao nhất trong 5 năm gần đây. Tập đoàn đạt doanh thu gần 44.400 tỷ đồng, tăng hơn 21%, với lợi nhuận sau thuế đạt 631 tỷ đồng, tăng hơn 62% so với năm 2024.

Đúc rút từ những bài học thực tế, lãnh đạo Vnsteel cho rằng, với doanh nghiệp nhà nước, các dự án đầu tư lớn, tiềm ẩn yếu tố rủi ro cũng cần được thiết kế “ngưỡng cắt lỗ”. Tiến độ chậm tới mức nào thì phải kích hoạt phương án thay tổng thầu; chi phí đội tới ngưỡng nào cần tạm dừng để rà soát toàn diện; hiệu quả tài chính không đạt trong bao nhiêu kỳ liên tiếp thì phải xem xét tái cơ cấu hoặc phương án thoái vốn. Nhiều dự án nghìn tỷ kéo dài nhiều năm trước đây, theo đánh giá của doanh nghiệp, không chỉ vì yếu tố khách quan, mà còn do thiếu cơ chế “phanh” đủ sớm, khiến quyết định điều chỉnh đến muộn. Khi có ngưỡng cắt lỗ rõ ràng, doanh nghiệp tránh được tâm lý “đã lỡ rồi thì cố”, còn cơ quan đại diện chủ sở hữu cũng không bị đẩy vào thế chỉ xử lý hậu quả.

Cùng với đó, các khoản đầu tư phải được sàng lọc theo hiệu quả tạo dòng tiền và triển vọng thị trường: dự án làm ăn hiệu quả cần được ưu tiên nguồn lực; dự án vận hành kém phải đưa vào diện tái cơ cấu; những tài sản “ngủ quên” kéo dài cần sớm tính phương án xử lý để giải phóng nguồn vốn cho các mảng then chốt. Việc duy trì những khoản đầu tư không còn tạo ra giá trị thực chất, về lâu dài, chỉ làm tăng chi phí cơ hội cho doanh nghiệp và nền kinh tế.